Ngày xửa ngày xưa, trong một ngôi làng nhỏ, có hai anh em sống nương tựa vào nhau từ khi cha mẹ mất sớm. Cha mẹ để lại cho họ một ít tài sản, đủ để hai anh em sống yên ổn qua ngày...
Thế nhưng, tính tình của họ lại rất khác nhau: người anh thì lười biếng, ham chơi, mọi việc nặng nhọc đều đổ lên vai người em hiền lành và siêng năng. Dù vất vả, người em vẫn không một lời than phiền.
Khi lớn lên, người anh muốn cưới vợ nên đòi chia gia tài. Vì tham lam và gian xảo, anh ta tìm cách chiếm hết nhà cửa, trâu bò và của cải, chỉ để lại cho người em một túp lều nhỏ xiêu vẹo cùng một mảnh vườn có cây khế. Mặc kệ em mình nghèo khổ, người anh sống sung sướng với phần lớn tài sản.
Thế rồi, vào một năm nọ, cây khế trong vườn người em bỗng trĩu quả vàng ươm, mùi thơm ngào ngạt. Người em mừng rỡ, hy vọng bán khế đổi lấy ít gạo. Nhưng một hôm, từ đâu bay đến một con chim to lớn, đậu xuống ăn hết những quả khế chín.
Người em buồn bã chạy ra than thở: "Chim ơi, ta chỉ có mỗi cây khế này để sống, nếu chim ăn hết thì ta biết lấy gì để đổi gạo?". Lạ thay, chim khổng lồ quay lại nói: "Ăn một quả, trả một cục vàng. May túi ba gang, mang đi mà đựng."
Ban đầu, người em còn ngạc nhiên, nhưng rồi cũng làm theo lời chim, may một chiếc túi đúng ba gang tay. Quả nhiên, hôm sau chim trở lại, cõng người em bay đi thật xa tới một hòn đảo đầy châu báu. Người em chỉ lấy vừa đủ đầy túi rồi xin trở về. Nhờ vậy, từ đó cậu sống đàng hoàng, không còn khổ cực.
Người anh nghe chuyện, nổi lòng tham, bèn dụ người em đổi lại tài sản, lấy lại cây khế. Ít lâu sau, chim thần lại đến. Người anh cũng bắt chước may túi chín gang. Tới đảo, anh ta hốt hết vàng bạc nhét vào đầy túi. Trên đường về, chim bay nặng nề, chim đuối sức, nghiêng cánh, người anh cùng túi vàng rơi tõm xuống biển, mất tích mãi mãi.
Ngày xửa ngày xưa, trong một ngôi làng nhỏ, có hai anh em sống nương tựa vào nhau từ khi cha mẹ mất sớm. Cha mẹ để lại cho họ một ít tài sản, đủ để hai anh em sống yên ổn qua ngày. Thế nhưng, tính tình của họ lại rất khác nhau: người anh thì lười biếng, ham chơi, mọi việc nặng nhọc đều đổ lên vai người em hiền lành và siêng năng. Dù vất vả, người em vẫn không một lời than phiền.
Khi lớn lên, người anh muốn cưới vợ nên đòi chia gia tài. Vì tham lam và gian xảo, anh ta tìm cách chiếm hết nhà cửa, trâu bò và của cải, chỉ để lại cho người em một túp lều nhỏ xiêu vẹo cùng một mảnh vườn có cây khế. Mặc kệ em mình nghèo khổ, người anh sống sung sướng với phần lớn tài sản.
Thế rồi, vào một năm nọ, cây khế trong vườn người em bỗng trĩu quả vàng ươm, mùi thơm ngào ngạt. Người em mừng rỡ, hy vọng bán khế đổi lấy ít gạo. Nhưng một hôm, từ đâu bay đến một con chim to lớn, đậu xuống ăn hết những quả khế chín. Người em buồn bã chạy ra than thở:
- Chim ơi, ta chỉ có mỗi cây khế này để sống, nếu chim ăn hết thì ta biết lấy gì để đổi gạo?
Lạ thay, chim khổng lồ quay lại nói:
- Ăn một quả, trả một cục vàng. May túi ba gang, mang đi mà đựng.
Ban đầu, người em còn ngạc nhiên, nhưng rồi cũng làm theo lời chim, may một chiếc túi đúng ba gang tay. Quả nhiên, hôm sau chim trở lại, cõng người em bay đi thật xa, qua núi non, biển cả rồi tới một hòn đảo đầy châu báu. Người em chỉ lấy vừa đủ đầy túi rồi xin trở về. Nhờ vậy, từ đó cậu sống đàng hoàng, không còn khổ cực.
Người anh nghe chuyện, nổi lòng tham, bèn dụ người em đổi lại tài sản, lấy lại cây khế. Ít lâu sau, chim thần lại đến. Người anh cũng bắt chước may túi, nhưng không phải ba gang mà là chín gang. Tới đảo, anh ta hốt hết vàng bạc, nhét vào đầy túi, thậm chí giắt đầy trong người. Trên đường về, chim bay nặng nề, nhiều lần bảo vứt bớt vàng nhưng người anh không nghe. Cuối cùng, chim đuối sức, nghiêng cánh, người anh cùng túi vàng rơi tõm xuống biển, mất tích mãi mãi.
Sự tích ăn khế trả vàng. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xửa ngày xưa, có hai chị em cùng cha khác mẹ tên là Tấm và Cám. Tấm hiền lành, chăm chỉ, còn Cám thì lười biếng. Cha Tấm mất sớm, Tấm phải sống với dì ghẻ – cũng là mẹ của Cám. Dì ghẻ chỉ thương Cám, còn Tấm thì bắt làm đủ việc nặng nhọc suốt ngày.
Một hôm, mẹ Cám sai hai chị em đi bắt cá, ai bắt được nhiều sẽ được thưởng. Tấm siêng năng nên bắt được đầy giỏ cá, còn Cám mải chơi chẳng được gì. Cám lừa Tấm lội xuống ao gội đầu rồi trộm hết cá đem về nhà. Tấm lên bờ, thấy giỏ cá trống trơn liền ngồi khóc. Bụt hiện lên, an ủi và bảo Tấm nuôi cá bống còn sót lại trong giỏ. Hằng ngày Tấm đem cơm ra giếng gọi cá bống lên ăn.
Dì ghẻ thấy lạ, sai Cám theo dõi rồi lừa Tấm đi chăn trâu xa, ở nhà hai mẹ con bắt cá bống ăn thịt. Tấm khóc, Bụt lại hiện lên, bảo Tấm nhặt xương cá, bỏ vào bốn hũ và chôn ở bốn chân giường.
Về sau, nhà vua mở hội, ai cũng được đi xem, chỉ Tấm bị bắt ở nhà nhặt thóc lẫn gạo. Bụt lại giúp, sai chim sẻ nhặt giúp Tấm. Nhưng Tấm không có quần áo đẹp đi hội nên lại khóc. Bụt bảo Tấm đào bốn hũ chôn dưới giường. Từ đó, Tấm có váy áo đẹp, giày thêu, ngựa và yên cương để đi dự hội. Trên đường, Tấm đánh rơi một chiếc giày.
Nhà vua đi qua, voi ngự không chịu đi vì giày vướng ở chỗ lầy. Vua nhặt được giày, ra lệnh ai vừa giày sẽ được làm hoàng hậu. Bao cô gái thử đều không vừa, chỉ Tấm mang vừa nên được vua rước về cung.
Mẹ con Cám tức lắm. Nhân dịp giỗ cha, Tấm xin về làm giỗ. Dì ghẻ bảo Tấm trèo lên cây cau rồi lén chặt gốc làm Tấm ngã xuống ao chết. Mẹ con Cám đem quần áo Tấm cho Cám giả làm hoàng hậu.
Tấm chết hóa thành chim Vàng Anh, bay về cung hót quanh vua. Cám giết chim, chôn lông, nơi đó mọc lên hai cây xoan, rồi bị chặt làm khung cửi. Khung cửi dệt vải lại kêu rợn người khiến Cám sợ, đem đốt. Tro bay lên mọc thành cây thị có một quả to, rơi vào bị một bà lão bán nước. Quả thị nứt ra, Tấm chui ra giúp bà lão dọn nhà.
Một hôm vua đi ngang, thấy miếng trầu têm khéo như Tấm từng làm, hỏi bà lão rồi nhận ra Tấm. Vua mừng rỡ đón Tấm về cung. Nghe Tấm kể lại mọi chuyện, nhà vua tức giận đuổi mẹ con Cám ra khỏi cung. Vừa ra khỏi thành thì giông bão nổi lên, mẹ con Cám bị sét đánh chết.
Từ đó, Tấm và nhà vua sống hạnh phúc bên nhau.
Tấm Cám. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xưa, có hai vợ chồng nghèo hiền lành nhưng tuổi đã cao mà vẫn chưa có con. Một hôm, người vợ đi rừng, khát nước quá nên uống nước mưa đọng trong cái sọ dừa. Sau đó, bà mang thai, rồi sinh ra một đứa bé không tay chân, người tròn như quả dừa. Ban đầu bà muốn bỏ con, nhưng em bé biết nói, xin mẹ giữ lại. Bà thương con và đặt tên là Sọ Dừa.
Lớn lên, tuy hình dáng kỳ lạ, Sọ Dừa rất ngoan và xin mẹ đi chăn bò thuê cho nhà phú ông. Dù lăn tròn đi làm nhưng cậu chăn bò giỏi, bò béo khỏe, ăn ít cơm nên phú ông rất hài lòng.
Phú ông có ba cô con gái, thay phiên nhau mang cơm cho Sọ Dừa. Hai chị cả chê bai, khinh rẻ, còn cô út hiền lành, thương người nên đối xử tốt với cậu. Một hôm, cô út phát hiện Sọ Dừa thật ra là chàng trai tuấn tú, giả dạng lăn tròn khi có người nhìn. Cô đem lòng yêu mến.
Khi hết mùa làm, Sọ Dừa nhờ mẹ đến hỏi cưới con gái phú ông. Phú ông cười khẩy, đưa ra sính lễ rất lớn để làm khó. Không ngờ đến ngày hẹn, Sọ Dừa chuẩn bị đủ lễ vật. Hai cô chị chê bai, chỉ cô út bằng lòng. Trong đám cưới, Sọ Dừa hiện thân là chàng trai khôi ngô khiến ai cũng bất ngờ.
Vợ chồng sống hạnh phúc. Sọ Dừa chăm học và thi đỗ Trạng nguyên, được vua sai đi sứ. Trước khi đi, chàng đưa vợ dao, đá lửa và hai quả trứng gà để phòng thân.
Hai chị vì ghen ghét, lừa em ra biển rồi đẩy xuống nước. May nhờ có dao, cô út rạch bụng cá kình thoát thân, dạt vào đảo hoang. Cô sống bằng đá lửa nướng cá, hai quả trứng nở ra gà trống và mái làm bạn.
Một hôm, thuyền của Sọ Dừa đi ngang, gà trống gáy to:
"Ò... ó... o...
Phải thuyền quan trạng rước cô tôi về."
Sọ Dừa nhận ra vợ, đón về nhà, làm tiệc lớn mừng đoàn tụ. Hai cô chị tưởng em đã chết, liền đến giả vờ thương tiếc. Đến khi cô út xuất hiện, hai chị xấu hổ quá bỏ đi biệt xứ.
Sọ dừa. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xưa, vào đời Hùng Vương thứ mười tám, có một nàng công chúa tên là Mỵ Nương, nổi tiếng khắp nơi vì nhan sắc tuyệt trần và tính nết hiền hậu. Vua cha rất yêu thương nàng, nên muốn tìm cho con một người chồng thật tài giỏi và xứng đáng.
Một hôm, có hai chàng trai tài ba đến cầu hôn. Người thứ nhất là Sơn Tinh, chúa tể vùng núi Tản Viên. Chàng có phép lạ, chỉ tay về đâu là nơi ấy mọc lên rừng xanh, núi non hùng vĩ. Người thứ hai là Thủy Tinh, chúa tể vùng biển cả, cũng tài giỏi không kém: chàng có thể gọi gió, hô mưa, dâng nước biển cao vút.
Cả hai đều xứng đáng làm rể vua Hùng. Nhà vua phân vân, bèn triệu các quan vào bàn bạc, nhưng vẫn không chọn được ai. Cuối cùng, vua Hùng nghĩ ra một cách, phán rằng:
– Hai người đều tài ba, nhưng ta chỉ có một người con gái. Ai mang lễ vật đến trước gồm voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, một trăm ván cơm nếp, hai trăm nệp bánh chưng, thì sẽ được cưới Mỵ Nương.
Sáng sớm hôm sau, Sơn Tinh là người đến trước, mang theo đầy đủ lễ vật, nên được vua Hùng gả Mỵ Nương và cho rước nàng về núi. Thủy Tinh đến sau, thấy vậy thì vô cùng tức giận. Chàng hô mưa, gọi gió, dâng nước sông lên cuồn cuộn, kéo quân đuổi theo Sơn Tinh, quyết cướp lại Mỵ Nương.
Mưa gió nổi lên ầm ầm, nước sông dâng cao ngập cả làng mạc, đồng ruộng, nhà cửa. Nhưng Sơn Tinh không hề nao núng. Chàng dùng phép dựng núi, đắp đồi, nâng cao đất đai để chống lại dòng nước hung dữ. Nước dâng lên bao nhiêu, chàng lại làm núi cao lên bấy nhiêu.
Hai bên đánh nhau suốt mấy tháng trời, trời đất rung chuyển. Cuối cùng, Thủy Tinh mệt mỏi, đành rút quân về. Nhưng mối hận trong lòng vẫn không nguôi. Từ đó, năm nào Thủy Tinh cũng đem quân lên đánh Sơn Tinh, gây ra mưa gió, bão lụt khắp nơi. Nhưng lần nào cũng vậy, Thủy Tinh đều thất bại.
Sơn Tinh Thuỷ Tinh. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xửa ngày xưa, ở một làng quê kia, có một chàng trai tên là Khoai, hiền lành, khỏe mạnh, sống bằng nghề làm thuê cuốc mướn. Một ngày nọ, anh đến làm thuê cho nhà một ông phú hộ giàu có nhưng keo kiệt. Biết anh siêng năng, lại thật thà, ông phú hộ muốn lợi dụng anh, bèn hứa hão:
– Mày cứ chăm chỉ làm việc cho tao, ba năm sau, tao sẽ gả con gái xinh đẹp của tao cho mày.
Tin tưởng lời hứa, Khoai làm việc ngày đêm, không quản nắng mưa, không đòi hỏi tiền công. Thế nhưng, khi ba năm trôi qua, ông phú hộ nuốt lời, lật lọng không muốn gả con. Ông định gả con gái cho một nhà giàu khác, coi như chưa từng hứa gì với chàng trai.
Để đuổi khéo Khoai, ông phú hộ ra điều kiện:
– Nếu mày muốn cưới con gái tao, thì hãy lên rừng, tìm cho được một cây tre có đúng một trăm đốt để tao làm cột nhà cưới vợ. Tìm được thì tao sẽ gả con gái cho.
Vì yêu thương cô gái, chàng trai quyết chí lên rừng, lặn lội khắp nơi tìm tre trăm đốt. Nhưng tìm mãi, hết rừng này sang rừng khác, tre thì nhiều nhưng không có cây nào đủ một trăm đốt. Quá mệt mỏi và tuyệt vọng, anh ngồi ôm mặt khóc.
Bỗng đâu có một ông lão râu tóc bạc phơ, tay chống gậy trúc, hiện ra trước mặt, giọng từ tốn hỏi:
– Vì sao con khóc?
Khoai kể lại đầu đuôi mọi chuyện. Nghe xong, ông lão mỉm cười rồi bảo:
– Con hãy đốn đủ 100 đốt tre rời, sau đó đọc câu thần chú: “Khắc nhập, khắc nhập, khắc nhập”, cây tre sẽ tự kết lại thành một cây tre trăm đốt. Khi nào muốn tách ra, thì đọc: “Khắc xuất, khắc xuất, khắc xuất”.
Nghe theo lời dặn, Khoai làm y như vậy. Quả nhiên, các khúc tre nối liền lại thành một cây tre dài đúng một trăm đốt. Mừng rỡ, anh định vác về, nhưng vướng quá không mang nổi, ông lão lại bảo đọc câu “Khắc xuất...” để tách ra.
Chàng trai bó tre lại gánh về nhà, vừa đến nơi thì thấy hai họ đang làm lễ cưới rình rang, chuẩn bị rước dâu cho con gái phú hộ với người khác. Hiểu ra mình bị lừa, anh lặng lẽ trải tre ra sân, đọc lớn:
– Khắc nhập, khắc nhập, khắc nhập!
Ngay lập tức, cây tre trăm đốt hiện ra giữa sân, khiến mọi người sững sờ. Anh mời ông phú hộ ra xem "thành quả" của mình. Ông ta vừa cúi xuống đếm từng đốt tre, vừa chưa biết nói sao, thì chàng trai nhanh miệng đọc:
– Khắc nhập, khắc nhập, khắc nhập!
Bỗng chốc, ông phú hộ bị dính chặt vào cây tre, không nhúc nhích được, vừa xấu hổ vừa hoảng sợ.
Sợ hãi và ân hận, ông xin lỗi và đồng ý gả con gái như đã hứa. Khoai đọc:
– Khắc xuất, khắc xuất, khắc xuất!
Ngay tức thì, ông được thả ra. Cuối cùng, chàng trai nghèo và cô con gái nhà phú hộ nên duyên vợ chồng, sống với nhau hạnh phúc suốt đời.
Cây tre trăm đốt. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xửa ngày xưa, vào thời vua Hùng, có một bà lão sống một mình, hiền lành mà chưa từng có con. Một buổi sáng ra thăm ruộng, bà nhìn thấy một dấu chân rất lớn giẫm nát cả luống cà. Bà tò mò ướm thử chân mình vào, không ngờ về nhà thì mang thai. Đủ tháng, bà sinh được một bé trai bụ bẫm, đặt tên là Gióng.
Lạ thay, Gióng lên ba mà vẫn không biết nói, biết cười hay lật người. Thế rồi, một ngày giặc Ân tràn sang xâm lược, vua Hùng truyền sứ giả đi khắp nơi tìm người tài cứu nước. Nghe tiếng loa truyền, mẹ Gióng vừa than vãn vừa ru con, không ngờ Gióng bỗng cất tiếng nói đầu tiên, bảo mẹ gọi sứ giả vào.
Trước mặt sứ giả, Gióng yêu cầu nhà vua rèn cho mình một ngựa sắt, gươm sắt, áo giáp sắt và nón sắt để ra trận. Dân làng nghe chuyện đều kinh ngạc và tin rằng đây là người trời xuống giúp nước. Từ đó, Gióng ăn khỏe chưa từng thấy: mỗi nồi cơm vừa dọn lên là ăn sạch, ăn bao nhiêu cũng chưa đủ. Càng ăn, Gióng càng lớn nhanh như thổi, cao lớn như người khổng lồ, mặc bao nhiêu quần áo cũng không vừa.
Khi ngựa sắt và vũ khí được khiêng tới, Gióng vươn vai một cái, bỗng hóa thành tráng sĩ sừng sững, tay cầm gươm, đầu đội nón sắt, nhảy phắt lên ngựa. Ngựa sắt rống lên, phun ra lửa, rồi lao vút ra chiến trường. Gióng múa gươm như sét đánh, chém giặc không sót một tên. Đến khi gươm gãy, Gióng nhổ tre ven đường làm vũ khí, tiếp tục quật giặc tan tành. Tên tướng giặc Ân bị tiêu diệt, tàn quân xin hàng.
Sau khi đánh tan giặc, Gióng cưỡi ngựa đến núi Sóc Sơn, bỏ lại áo giáp, nón sắt, rồi cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời, hóa thành bất tử.
Vua Hùng nhớ công lao to lớn ấy, phong Gióng là Phù Đổng Thiên Vương, lập đền thờ và truyền tụng đến muôn đời.
Thánh Gióng. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xưa ở quận Cao Bình, vợ chồng bác tiều phu họ Thạch hiền lành, hay làm việc thiện nhưng mãi không có con. Thấy vậy nên Ngọc Hoàng cho Thái tử xuống trần gian đầu thai làm con trai họ. Bà Thạch mang thai ba năm thì sinh ra Thạch Sanh, chẳng bao lâu sau bà cũng qua đời, để lại Thạch Sanh sống một mình trong túp lều tranh dưới gốc đa với một mảnh khố che thân và một cái búa đốn củi. Đến năm Thạch Sanh mười ba tuổi, Ngọc Hoàng sai tiên ông xuống dạy cho chàng các môn võ nghệ và mọi phép thần thông.
Đến một ngày nọ, có một người làm nghề nấu rượu tên là Lí Thông, đi bán rượu ghé vào gốc đa nghỉ chân, thấy Thạch Sanh khỏe mạnh, lanh lợi, ở một mình, bèn kết nghĩa anh em với Thạch Sanh. Khi đến lượt Lí Thông phải nộp mạng cho Chằn tinh, hắn liền lừa Thạch Sanh đi thay. Thạch Sanh giết chết Chằn tinh, nhưng Lí Thông lại đoạt công.
Sau đó, công chúa bị Đại bàng bắt cóc. Thạch Sanh bắn trúng nó và tìm được hang ổ. Lí Thông lại lừa Thạch Sanh xuống cứu công chúa rồi lấp hang giết chàng. Trong hang, Thạch Sanh giết Đại bàng, cứu được con vua Thủy Tề và được tặng cây đàn thần.
Sau này, Thạch Sanh bị vu oan ăn cắp châu báu và bị bắt giam. Trong ngục, chàng lấy cây đàn thần ra gảy để bày tỏ nỗi lòng, công chúa nghe được thì cất tiếng nói và vạch tội Lí Thông. Nhà vua định xử tội nhưng Thạch Sanh xin tha. Trên đường về, hai mẹ con Lí Thông bị sét đánh chết, hóa thành bọ hung.
Nhà vua gả công chúa cho Thạch Sanh. Các vua chư hầu tức giận kéo quân đánh, nhưng nghe đàn thần của Thạch Sanh, ai nấy đều cảm động và rút lui. Trước khi về, họ còn được Thạch Sanh đãi một niêu cơm ăn hoài không hết. Sau đó, Thạch Sanh lên ngôi vua và sống hạnh phúc bên công chúa.
Thạch Sanh. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xửa ngày xưa, trong một ngôi làng nhỏ có hai mẹ con sống nương tựa vào nhau. Người mẹ rất yêu thương con, dành tất cả tình cảm và công sức để nuôi nấng, chăm sóc con trai khôn lớn. Cậu bé vì được cưng chiều nên trở nên bướng bỉnh, ham chơi và không nghe lời.
Một hôm, chỉ vì một chuyện nhỏ mà cậu bị mẹ mắng. Trong cơn giận dỗi, cậu bé bỏ nhà ra đi. Ở nhà, người mẹ vô cùng lo lắng. Bà ngồi mãi nơi bậc cửa, ngày này qua ngày khác, mong con trở về. Nhưng thời gian trôi đi, bà vẫn không thấy bóng dáng con đâu. Nỗi đau buồn, nhớ thương con dằn vặt khiến người mẹ ngày càng héo mòn, cho đến khi bà gục xuống bên hiên nhà, đôi mắt vẫn hướng về con đường cũ.
Về phần cậu bé, sau nhiều ngày sống vất vưởng, đói khát và bị bắt nạt, cậu mới bắt đầu nhớ mẹ. Cậu lặn lội tìm đường trở về. Khi về đến nhà, cảnh vật vẫn như xưa, nhưng không thấy mẹ đâu. Cậu chạy vào gọi lớn: “Mẹ ơi, mẹ đi đâu rồi? Con đói quá!”
Không có tiếng trả lời. Cậu bé gục xuống ôm lấy một cây xanh trong vườn mà khóc. Bất chợt, cây bỗng rung lên, từ các cành lá mọc ra những bông hoa trắng nhỏ xíu như mây, rồi kết thành quả. Quả lớn rất nhanh, da xanh căng bóng, ánh lên vẻ dịu dàng như có linh hồn.
Một quả rơi xuống tay cậu. Cậu cắn một miếng. Quả chát. Quả thứ hai rơi xuống. Cậu lột vỏ, cắn trúng hạt cứng. Quả thứ ba rơi xuống, cậu nhẹ nhàng bóp quanh lớp vỏ, bất ngờ một dòng sữa trắng sánh ngọt trào ra. Mùi thơm dịu dàng, vị ngọt béo ngậy khiến cậu bật khóc – hương vị ấy giống như dòng sữa mẹ khi xưa.
Cây thì thầm trong gió: “Ăn trái ba lần mới biết trái ngon. Con có lớn khôn mới hay lòng mẹ.”
Cậu bé ngước nhìn cây: một bên lá xanh bóng, bên kia lại đỏ hoe như đôi mắt mẹ khóc chờ con. Thân cây xù xì, thô ráp như đôi tay mẹ tảo tần. Cậu ôm chặt lấy cây mà nức nở. Nước mắt cậu rơi xuống gốc, cây nhẹ nhàng rung rinh như đôi tay mẹ ôm con thuở nào.
Cậu hiểu ra, mẹ cậu đã hóa thân thành cây này, ở lại mãi mãi để chờ cậu về. Cậu kể câu chuyện cho mọi người nghe, kể về tình mẹ bao la và nỗi ân hận muộn màng của mình.
Từ đó, người dân đem hạt cây trồng khắp nơi và gọi tên nó là Cây Vú Sữa – biểu tượng thiêng liêng của tình mẫu tử, nhắc nhở con người về lòng biết ơn và tình yêu thương vô điều kiện của mẹ.
Sự tích cây vú sữa. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xưa, có một chàng tiều phu hiền lành, chất phác, ngày ngày lên rừng đốn củi kiếm sống. Anh chỉ có một chiếc rìu sắt cũ kỹ nhưng luôn trân trọng vì đó là công cụ duy nhất giúp anh mưu sinh. Một hôm, khi đang đốn củi bên bờ suối, chẳng may tay anh trượt, lưỡi rìu văng xuống nước sâu. Dù anh cố mò tìm, dòng nước lạnh và xiết khiến anh không thể làm gì được. Buồn bã, anh ngồi bệt xuống bờ suối, ôm mặt khóc vì mất rìu thì chẳng còn cách nào kiếm sống.
Bỗng từ mặt nước, một vị thần hiện ra. Đó là thần nước, ông hỏi:
– Vì sao con khóc?
– Thưa thần, con làm nghề tiều phu, vừa đánh rơi chiếc rìu sắt duy nhất của mình xuống suối. Không có nó, con chẳng biết làm gì để sống.
Cảm động trước lòng chân thật của chàng trai, thần nước lặn xuống suối, một lúc sau mang lên một lưỡi rìu bằng vàng sáng loáng. Thần hỏi:
– Đây có phải là rìu của con không?
Chàng trai lắc đầu ngay:
– Không, thưa thần. Rìu con chỉ là rìu sắt, cũ và đen xỉn. Chiếc này quý giá lắm, không phải của con đâu ạ.
Thần gật đầu, lại lặn xuống suối. Lần này, ông mang lên một lưỡi rìu bằng bạc sáng bóng.
– Vậy còn chiếc này?
Chàng trai vẫn lắc đầu:
– Thưa thần, rìu của con không đẹp như thế, nó chỉ là chiếc rìu sắt bình thường thôi.
Thần nước mỉm cười, lần thứ ba lặn xuống, và mang lên chiếc rìu sắt cũ kỹ đúng của chàng trai.
– Đây thì sao?
Chàng trai mừng rỡ:
– Đúng rồi, đây chính là chiếc rìu của con! Con cảm ơn thần nhiều lắm!
Thần nước xúc động trước lòng trung thực của chàng trai, liền nói:
– Con là người thật thà, không tham lam của cải không phải của mình. Vì vậy, ta tặng luôn cho con cả ba lưỡi rìu: vàng, bạc và sắt. Hãy sống tốt và tiếp tục giữ lòng thành như hôm nay.
Chàng tiều phu cảm ơn rối rít, ôm ba lưỡi rìu trở về. Từ đó, anh không còn phải sống khổ cực, nhưng vẫn tiếp tục làm việc chăm chỉ và sống tử tế với mọi người.
Câu chuyện về ba lưỡi rìu nhanh chóng lan truyền khắp vùng. Một tên tiều phu khác nghe được, vốn lười biếng và tham lam, liền nảy ra ý định bắt chước. Hắn cố tình ném chiếc rìu sắt của mình xuống suối rồi ngồi khóc thật to.
Thần nước lại hiện lên, hỏi sự tình. Hắn kể dối rằng vừa làm rơi rìu. Thần nước lặn xuống, lần đầu tiên mang lên chiếc rìu vàng. Hắn mừng rỡ la lên:
– Đúng rồi! Đó là rìu của con!
Thần nước nghiêm mặt lại:
– Ngươi không trung thực. Chiếc rìu này không phải của ngươi.
Rồi thần biến mất, mang theo cả chiếc rìu vàng lẫn rìu sắt của hắn. Tên tiều phu tham lam vừa mất rìu, vừa xấu hổ, tay trắng trở về.
Ba lưỡi rìu. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xửa ngày xưa, ở một vùng nọ, có chàng tiều phu tên là Cuội, sống hiền lành, chăm chỉ. Mỗi ngày, Cuội vào rừng đốn củi đem về bán lấy gạo nuôi thân.
Một hôm, Cuội tình cờ đi ngang qua một hang cọp gần con suối nhỏ, thấy bốn con cọp con đang đùa giỡn mà không thấy cọp mẹ đâu, Cuội liền ra tay chém chết cả bốn. Nhưng vừa lúc ấy, cọp mẹ trở về. Cuội sợ hãi trèo vội lên một cành cây gần đó để trốn.
Từ trên cao, Cuội chứng kiến cọp mẹ gầm thét rồi chạy tới một gốc cây lạ gần suối, ngắt lá nhai và mớm cho con mình. Kỳ diệu thay, chỉ trong chốc lát, bốn con cọp đã sống lại khỏe mạnh như chưa từng bị thương.
Đợi cọp đi xa, Cuội mừng rỡ xuống xem, đào cả gốc cây lạ ấy mang về. Trên đường, chàng gặp một ông lão ăn mày đã chết bên vệ đường. Nghĩ đến phép màu, Cuội liền dùng lá cây mớm thử, và thật kỳ lạ, ông lão tỉnh dậy, khỏe mạnh như thường.
Biết cây quý, ông lão dặn rằng: “Đây là cây cải tử hoàn sinh. Con nên giữ gìn cẩn thận, nhớ lấy lời ta: đừng bao giờ tưới cây bằng nước bẩn, kẻo cây sẽ bay lên trời mất đấy.”
Cuội cảm tạ, mang cây về trồng ở vườn nhà, ngày ngày chăm sóc, chỉ tưới bằng nước giếng trong. Từ đó, Cuội cứu sống được rất nhiều người. Chàng nổi tiếng khắp vùng là người có phép lạ.
Một ngày kia, Cuội cứu sống con gái một phú ông bị chết đuối. Biết ơn, phú ông gả con gái cho chàng. Cuộc sống của vợ chồng Cuội êm ấm, hạnh phúc.
Nhưng rồi tai họa ập đến. Giặc tràn qua làng, biết Cuội có cây thuốc quý, chúng lẻn vào nhà giết vợ Cuội và móc ruột vứt sông, hòng khiến chàng không thể cứu được nàng. Cuội về, cố mớm lá cây nhưng vô ích vì thiếu ruột, người không thể sống.
Lúc ấy, chú chó trung thành của Cuội bèn xin hiến ruột mình để cứu vợ chủ. Cuội ngần ngại, nhưng đành thử. Kỳ diệu thay, vợ chàng sống lại. Cuội thương xót chó, bèn nặn ruột bằng đất thay vào cho nó, và chó cũng sống.
Từ khi được ghép ruột chó, tính vợ Cuội trở nên hay quên. Cuội luôn nhắc: “Em nhớ nhé, cây quý trong vườn tuyệt đối không được tưới nước bẩn. Nếu không, cây sẽ bay mất!”
Nhưng một hôm, Cuội đi rừng chưa về, vợ quên lời chồng dặn, tiểu tiện ngay gốc cây. Đất trời bỗng rung chuyển, cây đa bật gốc, từ từ bay lên trời.
Cuội vừa về đến, thấy cây bay, liền quăng gánh củi, chạy tới níu lấy rễ cây, quyết không buông. Nhưng cây cứ thế cuốn cả Cuội lên tận cung trăng, không ai níu lại được.
Từ đó, người đời kể rằng, vào những đêm trăng sáng, nhìn lên trời có thể thấy bóng dáng chú Cuội ngồi bên gốc cây đa, nét mặt đăm chiêu như còn mãi ngóng chờ ngày trở về hạ giới.
Sự tích chú Cuội cung trăng. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xưa, vào thời vua Hùng Vương thứ sáu, sau khi đánh tan giặc Ân, nhà vua muốn truyền ngôi cho người con xứng đáng. Nhân dịp đầu xuân, vua triệu các hoàng tử lại và phán rằng:
- Con nào tìm được thức ăn ngon và ý nghĩa nhất để dâng lên bàn thờ tổ tiên, ta sẽ truyền ngôi cho.
Các hoàng tử đua nhau sắm sửa sơn hào hải vị. Riêng Lang Liêu – người con trai thứ mười tám, mồ côi mẹ từ nhỏ, nghèo khó và sống hiền lành – chẳng biết lấy gì để dâng vua cha. Một đêm, chàng nằm mộng thấy Thần nhân mách bảo:
- Gạo là tinh hoa của Trời Đất, con hãy lấy gạo nếp làm bánh hình vuông tượng trưng cho Đất, bánh tròn tượng trưng cho Trời. Nhân bánh ở trong là cha mẹ, lá ngoài là sự che chở, đùm bọc.
Lang Liêu tỉnh dậy, làm theo lời Thần. Chàng gói bánh vuông gọi là bánh chưng, đem hấp chín. Còn bánh tròn thì giã từ gạo nếp, gọi là bánh giầy. Đến ngày thi, giữa mâm cỗ toàn cao lương mỹ vị, hai món bánh giản dị của Lang Liêu khiến vua Hùng ngạc nhiên. Nghe chàng kể rõ ý nghĩa, vua nếm thử, thấy bánh ngon lành, chân chất, thấm đượm đạo hiếu nên vô cùng hài lòng.
Vua cha quyết định truyền ngôi cho Lang Liêu. Từ đó, bánh chưng bánh giầy trở thành lễ vật thiêng liêng mỗi dịp Tết đến, tượng trưng cho lòng biết ơn tổ tiên và truyền thống dân tộc Việt.
Sự tích bánh chưng, bánh giầy. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xưa, xưa lắm, cách đây mấy nghìn năm, trên mảnh đất phương Nam rộng lớn và hoang vu, có một vị vua tên là Kinh Dương Vương. Ngài là người đứng đầu nước Xích Quỷ, vốn rất tài giỏi và uy nghiêm. Một ngày kia, vua đi du ngoạn đến vùng Động Đình Hồ, nơi mây nước giao hòa, núi non hùng vĩ. Ở đó, vua đã gặp và đem lòng yêu Long Nữ, con gái của thần Long Động Đình – một nàng tiên sống dưới nước, dịu dàng, xinh đẹp và có phép thuật kỳ diệu.
Hai người nên duyên vợ chồng và sinh ra một người con trai khôi ngô tuấn tú, đặt tên là Sùng Lãm, sau này được gọi là Lạc Long Quân. Vì mẹ là dòng rồng, cha là người trần gian nên Lạc Long Quân vừa mang dòng máu thần tiên lại vừa mang dòng máu con người. Chàng khỏe mạnh phi thường, giỏi bơi lội, có thể sống lâu dưới nước như rồng, lại có lòng yêu thương con dân như cha.
Sau khi lớn lên, Lạc Long Quân được truyền ngôi, tiếp nối nghiệp cha để cai quản đất nước Lạc Việt. Nhưng thời bấy giờ, đất đai vẫn còn hoang sơ, dân chúng thì nghèo khổ, khắp nơi còn bị yêu quái hoành hành làm cho cuộc sống trở nên khốn khổ, lo sợ.
Ở biển Đông, có một con cá khổng lồ đã sống từ hàng trăm năm, dân gian gọi là Ngư Tinh. Mỗi khi cá nổi lên, sóng gió lại nổi cuồn cuộn, thuyền bè ra khơi đều bị cuốn trôi, có lúc cả chiếc thuyền lớn cùng người dân trong đó bị nó nuốt trọn chỉ trong một lần há miệng. Dân chài sợ hãi, không ai dám ra khơi nữa, cuộc sống ngày càng khốn khổ.
Biết chuyện, Lạc Long Quân lập tức xuống biển, mang theo cây đinh ba nhọn, cưỡi trên một chiếc thuyền lớn đi tìm Ngư Tinh. Gặp được con quái vật, chàng dũng cảm chiến đấu, dùng hết sức mạnh phóng cây đinh ba vào miệng nó khiến nó đau đớn quẫy đạp làm nước biển tung tóe. Chớp cơ hội, Lạc Long Quân dùng gươm chém đứt đầu Ngư Tinh, trừ hại cho dân lành. Biển cả từ đó lại trở nên yên bình, dân chài có thể an tâm ra khơi đánh cá.
Chưa dừng lại ở đó, chàng lại đến vùng Long Biên, nơi có con cáo chín đuôi – tên là Hồ Tinh. Ban ngày, nó ẩn mình trong hang sâu trên núi, nhưng đêm đến thì hóa thành người, mò đến các làng bắt trẻ con về ăn thịt. Dân làng sống trong nỗi sợ hãi triền miên, trẻ con không dám ra khỏi nhà vào buổi tối.
Lạc Long Quân dùng phép thuật lấy chỉ ngũ sắc biến thành dây thần, buộc thành chiếc thòng lọng. Chàng chờ trước cửa hang, đến khi Hồ Tinh bò ra thì nhanh tay siết chặt dây vào cổ nó. Dù nó giãy giụa, biến hóa khôn lường, nhưng cuối cùng vẫn không thoát được và bị tiêu diệt.
Sau khi yên vùng đồng bằng, Lạc Long Quân lại lên miền Phong Châu, nơi rừng núi rậm rạp, có một cây thông rất lớn, đã sống hơn một nghìn năm. Cây ấy đã hóa thành yêu quái tên là Mộc Tinh, ban ngày làm cây, ban đêm biến hình thành người để đi phá hoại dân làng: bắt trâu bò, phá nhà cửa, thậm chí giả làm người để lừa dân.
Chàng rồng lại vác rìu thật lớn, đi vào rừng sâu, chờ đến đêm khi Mộc Tinh hiện hình, chàng bất ngờ chém đổ cây thần, kết liễu yêu quái, trả lại sự yên bình cho núi rừng.
Sau khi trừ yêu quái khắp nơi, Lạc Long Quân không chỉ rời đi, mà còn ở lại giúp dân, chàng dạy dân trồng lúa nếp, thu hoạch rồi giã thành gạo, nấu thành cơm lam bằng cách bỏ gạo vào ống nứa, đổ nước, nút lá chuối rồi nướng trên than hồng. Món cơm này mềm dẻo, thơm ngon, dân rất thích.
Chàng dạy cách đánh cá, chế tạo ra những chiếc thuyền có hình đầu cá lớn đang nhe răng dữ tợn, làm các sinh vật hung dữ dưới nước sợ mà không dám tấn công. Dân khắp nơi học được cách làm ruộng, đánh cá, sống yên ổn, không còn bị yêu ma quấy phá như trước nữa.
Truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xưa, ở miền biển phương Nam, có một chàng trai tuấn tú, tài giỏi, tên là Lạc Long Quân, thuộc dòng dõi Rồng, con của thần Long Nữ. Một ngày kia, chàng chu du lên vùng núi phía Bắc, gặp được nàng Âu Cơ, xinh đẹp nết na, thuộc dòng Tiên ở phương trời cao.
Hai người phải lòng nhau, nên nên duyên vợ chồng. Họ sống bên nhau hạnh phúc và chẳng bao lâu sau, nàng Âu Cơ sinh ra một cái bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con khỏe mạnh, tuấn tú, thông minh, chưa từng thấy.
Ngày tháng êm đềm trôi qua, nhưng rồi Lạc Long Quân chạnh lòng nhớ biển cả, cảm thấy mình không thể sống mãi trên cạn được, đành từ biệt Âu Cơ và đàn con để trở về thủy cung với mẹ. Âu Cơ ở lại một mình nuôi đàn con, tháng ngày chờ mong, buồn tủi. Cuối cùng nàng gọi chồng lên và than thở.
– Sao chàng bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi đàn con nhỏ?
Lạc Long Quân nói:
– Ta vốn nòi rồng ở miền nước thẳm, nàng là giòng tiên ở chốn non cao. Kẻ ở cạn, người ở nước, tính tình tập quán khác nhau, khó mà ăn ở cùng nhau một nơi lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương. Kẻ miền núi, người miền biển, khi có việc gì thì giúp đỡ lẫn nhau, đừng quên lời hẹn.
Hai người đành chia tay trong hòa thuận. Lạc Long Quân dắt năm mươi người con xuống miền biển, còn Âu Cơ đưa năm mươi người con lên núi sinh sống.
Từ đó, trăm người con của họ chia nhau đi khắp nơi, mở mang bờ cõi, dựng làng, lập nước. Người con trưởng được tôn làm vua Hùng thứ nhất, lập ra nước Văn Lang, chính là tổ tiên của người Việt ta ngày nay.
Tổ tiên người Việt là Lạc Long Quân và Âu Cơ, người thuộc dòng Rồng Tiên, nên con cháu muôn đời vẫn tự hào mình là “con Rồng, cháu Tiên”.
Truyền thuyết ấy không chỉ nhắc nhở ta về cội nguồn dân tộc, mà còn gửi gắm thông điệp sâu sắc về tình yêu thương, sự gắn kết và lòng biết ơn tổ tiên của người Việt từ thuở sơ khai.
Truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ. Nguồn: Việt Sử Truyện
Ngày xưa, có một ông vua muốn tìm người tài giỏi giúp nước, bèn sai một viên quan đi khắp nơi dò la. Viên quan đi khắp vùng, ai ông cũng đố đủ thứ câu hóc búa, nhưng chưa gặp được ai thật đặc biệt. Một hôm, ông đi ngang cánh đồng, thấy hai cha con đang làm ruộng: cha thì đánh trâu cày, con trai nhỏ thì đập đất. Ông bèn ghìm ngựa lại, hỏi lớn:
– Này lão kia, trâu của lão một ngày cày được mấy đường?
Người cha chưa kịp trả lời thì cậu bé chừng bảy, tám tuổi đã nhanh nhảu:
– Thưa ông, nếu ông cho biết ngựa của ông đi một ngày được mấy bước, cháu sẽ nói trâu của cha cháu cày được mấy đường!
Viên quan sửng sốt, nghĩ thầm: "Đây chắc chắn là nhân tài rồi!", bèn hỏi quê quán hai cha con rồi phi ngựa về tâu vua.
Vua nghe chuyện, liền ra lệnh thử tài: ban cho làng ba con trâu đực và ba thúng gạo nếp, bắt năm sau phải nộp lại chín con trâu con, nếu không sẽ bị phạt. Cả làng hoang mang, họp mãi không nghĩ ra cách, chỉ có cậu bé nói:
– Đây là lộc vua ban, làng cứ giết hai trâu và đồ hai thúng gạo nếp làm cỗ ăn mừng, còn một trâu và một thúng gạo, cha con con sẽ lấy làm kinh phí trẩy kinh lo liệu việc đó.
Cha bé lo lắng:
– Ăn hết rồi lấy gì nộp cho vua?
Cậu bé quả quyết:
– Cha cứ tin con!
Lên kinh, cậu bé giả khóc thảm thiết ngoài cổng cung. Vua cho gọi vào, hỏi:
– Sao con khóc?
– Tâu đức vua, mẹ con mất sớm, mà cha không chịu đẻ em cho con chơi…
Vua bật cười:
– Làm gì có chuyện đàn ông đẻ được!
– Thế sao lại bắt làng con nuôi trâu đực đẻ ra chín trâu con?
Vua bật cười ha hả, nhưng vẫn chưa chịu thua, hôm sau lại sai sứ mang con chim sẻ đến, bắt làm ba mâm cỗ. Cậu bé đưa ra một cây kim may, bảo:
– Xin mang về rèn cho cháu con dao để xẻ thịt chim!
Vua lúc này mới thực sự tâm phục, thưởng lớn cho hai cha con.
Chẳng bao lâu, sứ giả nước láng giềng đưa sang một chiếc vỏ ốc, đố xâu chỉ qua ruột ốc. Các quan nghĩ mãi không ra, lại mời cậu bé. Cậu chỉ hát:
"Tang tính tang, tính tình tang
Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng
Bên thì lấy giấy mà bưng
Bên thì bôi mỡ, kiến mừng kiến sang…"
Vua làm theo, quả nhiên xâu được chỉ. Từ đó, cậu bé được phong Trạng Nguyên, cho ở lại bên vua để giúp việc triều đình.
Cậu bé thông minh. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xửa ngày xưa, ở một làng quê thanh bình, có một gia đình nọ sống hiền lành, đông vui. Ông lão chủ nhà có hai người con – một trai, một gái. Từ thuở nhỏ, anh em thân thiết như hình với bóng, đi đâu cũng có nhau. Nhưng rồi thời gian trôi, họ khôn lớn, hai anh em lập gia đình, mỗi người một ngả, tình cảm dần xa cách. Chuyện nhỏ hóa to, chuyện to thành lời qua tiếng lại. Họ chẳng còn nói với nhau bằng lời yêu thương như thuở trước.
Người cha già nhìn con cái bất hòa mà lòng buồn rười rượi. Một hôm, ông gọi cả con trai, con dâu lại, đặt lên bàn một bó đũa tre và một túi tiền lấp lánh. Ông từ tốn bảo:
– Ai trong các con bẻ gãy được bó đũa này, cha sẽ tặng luôn túi tiền làm phần thưởng.
Bốn người con thay phiên nhau thử sức. Ai nấy đều đỏ mặt, gân tay nổi lên, bó đũa vẫn trơ trơ như đá. Không ai bẻ nổi. Ông lão mỉm cười, thong thả tháo bó đũa ra rồi nhẹ nhàng bẻ từng chiếc một, rắc… rắc…, chẳng khó khăn gì.
Các con nhìn nhau ngạc nhiên, rồi cùng thốt lên:
– Cha ơi, bẻ từng chiếc đũa thì dễ quá!
Ông lão gật đầu, giọng chậm rãi nhưng ấm áp:
– Các con à, một chiếc đũa lẻ loi thì ai cũng có thể bẻ gãy. Nhưng cả bó đũa kết lại thì mạnh mẽ vô cùng. Con người cũng thế. Nếu các con đoàn kết, yêu thương nhau thì không điều gì lay chuyển được. Còn nếu chia rẽ, thì chỉ một cơn gió nhẹ cũng khiến nhà tan cửa nát.
Từ đó, anh em trong nhà sống chan hòa, nhường nhịn nhau như xưa. Câu chuyện bó đũa của ông cha trở thành bài học mà cả làng đều nhắc mãi.
Câu chuyện bó đũa. Nguồn: Miền Cổ Tích
Thuở xưa, vào đời vua Hùng thứ mười bảy, có một chàng trai mồ côi tên là Mai Yển. Tuy không phải dòng dõi quý tộc, nhưng chàng thông minh, tháo vát, tướng mạo khôi ngô, nên được vua yêu quý nhận làm con nuôi, đặt tên là Mai An Tiêm. Từ đó, An Tiêm được sống trong cung, hưởng của ngon vật lạ, lại được vua thường xuyên ban thưởng.
Một hôm, trong buổi yến tiệc, An Tiêm vô tình nói một câu khiến cả triều sửng sốt: “Của biếu là của lo, của cho là của nợ.” Ý chàng là: có được gì cũng là nhờ công sức mình, không nên ỷ lại vào người khác.
Câu nói ấy đến tai vua. Vua cho rằng An Tiêm vô ơn, ngạo mạn nên nổi giận, lập tức ra lệnh đày cả gia đình An Tiêm – vợ và con trai nhỏ – ra một hòn đảo hoang ngoài biển Nga Sơn.
Trên đảo, không nhà cửa, không thức ăn, An Tiêm vẫn không nản lòng, nói với vợ: “Trời sinh voi, ắt sinh cỏ. Chúng ta cứ chăm chỉ làm ăn, ắt sẽ sống được.”
Hằng ngày, An Tiêm vào rừng tìm rau dại, đốn củi. Vợ chàng ra biển mò ốc, bắt cá. Con trai lớn giúp đặt bẫy săn chim. Cuộc sống tuy vất vả nhưng gia đình luôn đồng lòng.
Một hôm, An Tiêm nhìn thấy một con chim ăn quả lạ có vỏ xanh, ruột đỏ, hạt đen. Chàng thầm nghĩ: “Chim ăn được thì chắc người cũng ăn được.”
Chàng cắt một quả nếm thử, thấy mát lành, ngọt dịu. An Tiêm mang hạt về gieo, chẳng bao lâu cây mọc xanh tốt, bò dài đầy đất, ra rất nhiều quả.
Dưa chín, ruột đỏ, ngọt đậm. An Tiêm liền khắc tên mình lên vỏ dưa, thả trôi theo dòng nước với hy vọng có người trên đất liền nhặt được. Quả nhiên, có thương nhân đi thuyền vớt được, ăn thử, thích quá nên lần theo vết chữ mà tìm đến đảo mua dưa. Từ đó, gia đình An Tiêm bắt đầu buôn bán, có lương thực và quần áo.
Tin về quả dưa kỳ lạ vang về triều đình. Một hôm, vua Hùng ăn thử dưa do người dân dâng lên, hỏi xuất xứ thì biết là của An Tiêm trồng. Vua ân hận, thở dài: “Ta trách lầm người hiền.”
Vua lập tức sai thuyền đón cả nhà An Tiêm về kinh. Đến nay, dân ta vẫn truyền nhau: “Dưa hấu Nga Sơn – ngọt lành từ đất nghĩa tình.”
Sự tích dưa hấu. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xưa, xưa lắm, khi đất trời còn hỗn loạn, loài quỷ còn tung hoành khắp chốn. Chúng mạnh mẽ, đông đúc và tham lam, đã chiếm hết ruộng đồng, đất đai. Con người yếu thế, phải sống nhờ đất của quỷ, thuê đất trồng trọt rồi nộp phần lớn sản phẩm cho chúng. Ban đầu, quỷ đưa ra thỏa thuận: "Người lấy gốc, thân; quỷ lấy phần ngọn."
Lúc đó, dân chủ yếu trồng lúa. Lúa thì ngọn mang hạt, gốc chỉ có rạ rơm. Thế là mùa nào dân cũng trắng tay, chẳng có gì ăn, sống lay lắt.
Một hôm, trong lúc dân đang khốn khổ, có một ông tiên hiện ra trong hình dáng ông lão râu bạc, bảo với nông dân: "Hãy trồng khoai. Củ khoai nằm sâu dưới đất, quỷ không lấy được."
Người dân nghe theo, mùa đó được ăn no. Quỷ thấy không thu được gì, bực tức, liền đổi luật: "Mùa sau, quỷ sẽ lấy gốc, thân! Người chỉ được phần ngọn!"
Tiên lại nhắc dân: "Hãy trở lại trồng lúa."Quỷ cười hí hửng vì được phần dưới, nhưng khi thu hoạch thì chỉ toàn rơm rạ, còn thóc người giữ hết.
Tức tối, quỷ gào lên: "Mùa sau, quỷ ăn cả gốc, thân lẫn ngọn!"
Tiên vẫn điềm đạm trao cho dân hạt giống bắp: "Hãy trồng cây này, quả mọc ở giữa thân."Mùa đó, quỷ được ngọn trơ trụi, gốc khô queo, thân trụi trơn. Không chịu nổi nữa, quỷ giận dữ đòi thu lại hết đất đai, cấm không cho người trồng trọt.
Lúc này, tiên mới xin quỷ cho người lấy một mảnh đất bằng bóng của chiếc áo treo trên ngọn tre. Thấy bóng áo nhỏ, quỷ đồng ý. Nhưng khi áo được kéo lên, tiên hóa phép cho áo căng rộng ra, bóng trải cả cánh đồng, xua đuổi quỷ chạy ra tận biển Đông.
Mất đất, quỷ điên tiết, kéo nhau lên cướp lại. Tiên dạy dân dùng máu chó, tỏi, lá dứa, vôi – những thứ quỷ rất kỵ – để chống trả. Quỷ sợ quá, thất trận chạy về biển.
Trước khi đi, quỷ thở dài, van xin: "Cho quỷ về thăm ông bà tổ tiên mỗi năm một lần thôi."
Tiên thương tình, gật đầu. Từ đó, mỗi dịp Tết Nguyên Đán, người ta tin rằng quỷ được về thăm nhà, nên treo tỏi, đốt vôi, rắc lá dứa, máu chó để xua đuổi tà khí. Và đất đai từ đó thuộc về con người.
Cây nêu ngày Tết. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xưa, vào thời vua An Dương Vương dựng nước Âu Lạc, ông cho xây thành Cổ Loa làm kinh đô. Nhưng xây mãi không xong, cứ đắp lên là sụp xuống. Một hôm, được rùa thần giúp đỡ, thành mới xây xong. Rùa thần còn tặng cho vua một cái móng vuốt, bảo rèn thành nỏ thần, nếu có nỏ này thì “giặc đến trăm đường cũng không lo”.
Nhờ nỏ thần, Âu Lạc trở nên vững mạnh. Nhưng lòng người khó đoán, hiểm họa lại đến từ nơi không ai ngờ nhất...
Vua nước Nam Việt là Triệu Đà luôn nhòm ngó Âu Lạc. Biết không thể thắng bằng vũ lực, ông xin giảng hòa, rồi cho con trai là Trọng Thủy sang cầu hôn công chúa Mị Châu, con gái An Dương Vương.
An Dương Vương vốn tin tưởng, lại thương con, nên đồng ý. Mị Châu và Trọng Thủy yêu nhau, sống trong cung đình hạnh phúc. Nhưng Trọng Thủy thực chất là gián điệp, giả vờ yêu để dò la bí mật quốc gia.
Một đêm, Trọng Thủy nhẹ nhàng hỏi Mị Châu:
– Nàng có thể cho ta xem nỏ thần trông như thế nào không?
Mị Châu ngây thơ, nghĩ chồng là người một nhà, liền chỉ cho xem. Trọng Thủy bí mật lấy trộm nỏ thần mang về nước, làm bản sao cho cha.
Khi đã xong xuôi, Trọng Thủy về nước, nước mắt rưng rưng:
– Ta về thăm cha vài hôm rồi sẽ trở lại.
Chẳng bao lâu sau, Triệu Đà đem quân sang đánh, An Dương Vương ung dung mang nỏ thần ra thì phát hiện... nỏ đã mất linh. Quân Âu Lạc đại bại. Vua dắt Mị Châu lên ngựa bỏ chạy về phía biển.
Trong cơn hoảng loạn, Mị Châu lén rắc lông ngỗng dọc đường đi, mong Trọng Thủy tìm được mà đoàn tụ. Nhưng không ngờ, đó lại là dấu vết dẫn đường cho quân giặc.
Khi đến bờ biển, không còn đường thoát, vua quay lại, nhìn con gái và hỏi:
– Vì sao giặc biết đường ta chạy?
Mị Châu ngơ ngác kể lại. Nghe xong, vua đau đớn:
– Trời ơi, con là giặc mà không biết! Trọng Thủy là chồng con, nhưng là kẻ phản bội đất nước!
Vua giơ gươm chém chết Mị Châu. Nàng ngã xuống biển, máu tan vào nước. Lúc ấy, rùa thần hiện lên, cõng vua lặn xuống biển sâu, vĩnh viễn biệt tích.
Về phần Trọng Thủy, sau khi giặc thắng, chàng lần theo lông ngỗng đến nơi thì chỉ thấy xác vợ mình bên bờ biển. Quá đau đớn và ân hận, Trọng Thủy nhảy xuống giếng tự vẫn.
Người đời sau kể rằng, ngọc trai vùng biển Cổ Loa ngậm nước giếng Trọng Thủy thì sáng long lanh như lệ, vì là kết tinh từ máu của Mị Châu và nước mắt của chàng.
Sự tích nỏ thần. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xưa, trời hạn hán triền miên. Nắng như đổ lửa, sông cạn, suối khô, cây cối héo úa, muôn loài đói khát lả lơi. Ai cũng oán than, nhưng trời vẫn cứ im lìm.
Có một con Cóc tía sống bên gốc đa, thấy thế bèn tự nhủ:“Không thể ngồi chờ chết, ta phải lên trời mà kiện!”
Khởi đầu chỉ có một mình, nhưng Cóc không nản. Đến vũng đầm khô, Cóc gặp Cua càng đang thở dài. Cua hỏi Cóc đi đâu. Nghe chuyện kiện trời, Cua lắc đầu:– Trời xa thế, đi sao nổi mà kiện với tụng!
Nhưng sau khi Cóc nài nỉ hết lời, Cua cũng đồng ý đi cùng.
Đi tiếp, hai bạn gặp Cọp nằm phơi bụng thở thoi thóp và Gấu đang rũ rượi vì đói khát. Cóc rủ. Cọp còn lưỡng lự, Gấu gạt đi ngay:– Đến như Cua còn theo Cóc được, sao ta không đi?
Vậy là cả bọn thành một đoàn. Trên đường lại gặp đàn Ong khô mật và Cáo cháy sém cả đuôi vì nắng. Họ cũng nhập hội.
Đoàn đi mãi, cuối cùng cũng tới cổng thiên đình. Cóc nhanh trí phân công:
– Cua nấp trong chum nước, Ong và Cáo sau cánh cửa, Cọp và Gấu đứng sau lưng mình. Khi nghe hiệu lệnh nghiến răng, tất cả xông ra!
Sắp đặt xong, Cóc nhảy lên trống trời, đánh ba hồi ầm ầm như sấm động. Ngọc Hoàng đang ngủ trưa giật mình bực bội, sai Thiên Lôi ra xem. Thiên Lôi vừa lau mạng nhện trên búa sét vừa chạy ra, thấy mỗi một con Cóc bé xíu ngồi oai vệ.
Búa thì to, Cóc thì nhỏ, đánh cũng... phí sức. Thế là Thiên Lôi quay vào tâu. Ngọc Hoàng cáu, sai Gà trời ra mổ chết Cóc.
Gà vừa bay ra, Cóc nghiến răng, Cáo nhảy ra cắn cổ tha đi. Ngọc Hoàng lại sai Chó nhà trời, Gấu đón đầu tát chết. Rồi đến lượt Thiên Lôi thật sự ra tay.
Thiên Lôi vác búa sét ra, Ong từ sau cánh cửa bay vù ra, đốt thẳng vào mũi. Đau quá, Thiên Lôi nhảy ngay vào chum nước trốn, ai ngờ Cua trong đó đã chờ sẵn, kẹp chặt cổ! Thiên Lôi la oai oái, vừa vùng lên thì Cọp gầm một tiếng, lao ra xé xác Thiên Lôi tan tành.
Ngọc Hoàng sợ xanh mặt, xin giảng hoà. Cóc đồng ý, ra hiệu cho Cọp và Gấu mang xác Thiên Lôi về. Ngọc Hoàng đích thân dùng nước cam lồ chữa lành cho ông.
Ngọc Hoàng hỏi:
– Cậu Cóc có chuyện gì lên đây làm rối thiên đình thế?
Cóc đáp:
– Dưới trần gian hạn hán ba năm, cây cối khô héo, vạn vật chết khát. Chúng con phải lên xin Ngọc Hoàng làm mưa cứu dân.
Ngọc Hoàng vội đáp:– Ừ ừ, từ nay có hạn, cậu Cóc chỉ cần nghiến răng, ta sẽ cho mưa ngay! Cậu đừng lên nữa, phiền lắm!
Từ đó, mỗi khi Cóc nghiến răng là trời mưa, và dân gian có câu:
“Con Cóc là cậu ông Trời
Hễ ai đánh cóc thì trời đánh cho!”
Cóc kiện Trời. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xửa ngày xưa, trong khu rừng nọ có một con Hổ to khỏe, oai phong, là chúa tể muôn loài. Một hôm, Hổ thấy Trâu đang kéo cày cho một người nông dân. Hổ lấy làm lạ, nghĩ thầm:
– Trâu khỏe thế kia, sao lại chịu để con người sai khiến? Ta phải hỏi cho ra lẽ.
Hổ tiến tới hỏi Trâu:
– Này Trâu, ngươi to khỏe thế, sừng nhọn thế, sao lại để con người nhỏ bé điều khiển?
Trâu thở dài:
– Người không có sức như ta, nhưng có trí khôn, nên ta phải nghe lời.
Hổ ngạc nhiên, quay sang hỏi người nông dân:
– Này, ngươi đâu, ngươi cho ta xem trí khôn của ngươi được không?
Người nông dân gãi đầu nghĩ kế. Ông ta nói:
– Được thôi! Nhưng trí khôn ta để ở nhà. Nếu ngươi muốn xem thì ta về lấy, nhưng sợ lúc ta đi, ngươi ăn mất Trâu của ta.
Hổ bảo:
– Ta thề không ăn đâu. Ngươi cứ buộc Trâu lại là được.
Người nông dân lại nói:
– Ta cũng chẳng tin lời Hổ. Hay là ta buộc Hổ vào gốc cây, rồi đi lấy trí khôn về. Khi nào ta quay lại, sẽ tháo dây và chỉ cho ngươi xem.
Hổ thấy cũng phải, bèn để người nông dân trói mình chặt vào một thân cây to bằng dây thừng chắc nịch.
Khi Hổ bị buộc chặt rồi, người nông dân vác luôn bó củi khô, châm lửa đốt rụi lông Hổ, vừa đốt vừa nói:
– Đây! Trí khôn của ta đây!
Hổ đau đớn gào thét, lông cháy xém, vội giãy giụa đứt dây chạy vào rừng. Từ đó về sau, Hổ mất hết vẻ oai phong, da đầy vằn vện – là dấu tích của trí khôn của con người để lại.
Trí khôn của ta đây. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xửa ngày xưa, ở vùng núi rừng Bắc Kạn, có một xã tên là Nam Mẫu, nơi người dân vẫn giữ phong tục mở hội cầu Phật đầu năm. Ngày ấy, dân làng ăn mặc đẹp đẽ, tề tựu đông đủ lên chùa thắp hương, mong cầu an lành, mùa màng tốt tươi.
Trong lúc hội đang náo nhiệt, bỗng một bà lão ăn mày lưng còng, người gầy còm, da lở loét, quần áo rách rưới hôi hám, lảo đảo bước vào. Bà yếu ớt cất tiếng xin ăn, nhưng ai nấy đều kinh sợ và xua đuổi bà ra khỏi đám đông. Không ai dám lại gần.
Bà lão lê đến ngã ba đường thì gặp hai mẹ con nhà nghèo đi chợ về. Thấy bà đáng thương, người mẹ không ngần ngại đưa bà về nhà, lấy cơm cho ăn rồi mời bà nghỉ lại qua đêm. Đêm ấy, hai mẹ con đang lim dim ngủ thì chợt thấy ánh sáng lạ phát ra nơi bà nằm. Nhìn kỹ, họ bàng hoàng thấy một con giao long to lớn đang cuộn mình, đầu gác lên xà nhà, đuôi thò xuống đất. Cả hai run rẩy, không dám động đậy, chỉ biết nín thở phó mặc số phận.
Sáng hôm sau, giao long biến mất, chỉ còn bà lão già yếu. Trước khi đi, bà gọi người mẹ lại và nói nhỏ: “Nơi đây sắp có nạn lớn. Đây là gói tro, hãy rắc xung quanh nhà cho an toàn.” Rồi bà nhặt một hạt thóc, cắn đôi, trao hai mảnh vỏ trấu cho người mẹ và dặn: “Khi cần giúp người, hãy dùng nó.” Nói xong, bà vụt một cái biến mất.
Hai mẹ con kể lại chuyện kỳ lạ ấy, nhưng không ai tin. Tối hôm đó, khi hội chùa đang diễn ra, đất bỗng nứt toác, một cột nước khổng lồ phun lên, cuốn trôi ruộng vườn, nhà cửa. Dân làng hoảng loạn bỏ chạy, nhưng chẳng mấy ai thoát. Riêng ngôi nhà nhỏ của hai mẹ con vẫn bình yên, khô ráo giữa biển nước. Nhớ lời bà lão, người mẹ thả hai mảnh vỏ trấu xuống nước, chúng biến thành hai chiếc thuyền.
Thế là mặc trời mưa, gió lớn, hai mẹ con chèo thuyền cứu giúp người làng. Sau trận đại hồng thủy, nơi nước rút để lại một hồ nước mênh mông, người đời sau gọi là Hồ Ba Bể. Nơi nhà hai mẹ con từng sống nay nổi lên giữa hồ, thành một gò nhỏ, người ta gọi là gò Bà Goá, để mãi ghi nhớ tấm lòng nhân hậu đã cứu cả một vùng khỏi tai ương.
Sự tích hồ Ba Bể. Nguồn: Miền Cổ Tích
Vào một đêm giao thừa lạnh giá, tuyết phủ trắng xóa khắp phố phường, một cô bé bán diêm nhỏ bé, đầu trần chân đất, lang thang giữa đường phố vắng vẻ. Em đã mất cả hai chiếc giày – một chiếc bị xe nghiến, một chiếc bị người ta nhặt mang đi – và giờ đây, đôi chân em đỏ ửng, tím tái vì rét. Trong chiếc tạp dề cũ kỹ là những bao diêm mà em không thể bán được, dù đã cố gắng chen vào đám đông đang vội vã đi qua. Không ai quan tâm đến sự hiện diện của em – một đứa trẻ nghèo khổ, đói lạnh giữa ngày lễ hội.
Em bé tìm được một góc tường khuất gió, ngồi co ro trong giá buốt. Không dám trở về nhà vì sợ bị cha mắng do chưa bán được que diêm nào, em lấy ra một que và quẹt lên để sưởi ấm. Trong ánh lửa bập bùng, em tưởng tượng mình đang ngồi trước lò sưởi ấm áp. Nhưng khi lửa tắt, mọi thứ lại biến mất, trả em về với thực tại lạnh lẽo. Que diêm thứ hai được quẹt lên, đưa em đến một khung cảnh ấm cúng: bàn ăn thịnh soạn, ngỗng quay béo ngậy bay về phía em. Nhưng rồi ánh sáng cũng vụt tắt.
Tiếp đó, em quẹt que diêm thứ ba. Em nhìn thấy một cây thông Noel rực rỡ, lung linh ánh nến và màu sắc, làm trái tim nhỏ bé bừng sáng niềm hy vọng. Em đưa tay chạm vào, nhưng ánh sáng lại tắt ngấm. Em ngước nhìn lên bầu trời, thấy những ngôi sao bừng sáng, và nhớ lời bà từng nói: “Khi một vì sao rơi là có một linh hồn bay lên trời.” Em lại nhớ bà – người duy nhất yêu thương em – và trong lần quẹt diêm kế tiếp, bà hiện ra dịu dàng, ấm áp như xưa. Em òa khóc xin bà đừng bỏ em lại, xin được theo bà lên trời.
Không muốn bà biến mất, em tiếp tục quẹt thêm nhiều que diêm, cho đến khi chúng cháy hết. Cuối cùng, bà nắm lấy tay em, và cả hai bà cháu cùng bay lên trời, rời khỏi đói rét, cô đơn, giận dữ và đòn roi. Họ đã đến một nơi không còn nỗi buồn.
Sáng hôm sau, trong ánh sáng tinh khôi của năm mới, mọi người phát hiện cô bé đã chết cóng bên bức tường, môi mỉm cười và tay ôm lấy bao diêm gần như cháy hết. Không ai biết rằng, trong những khoảnh khắc cuối cùng, em đã được sống trong ảo mộng đẹp đẽ, được gặp lại người bà thân yêu và ra đi trong bình yên.
Cô bé bán diêm. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xửa ngày xưa, có một cô bé hiền lành, xinh đẹp tên là Lọ Lem. Từ nhỏ, em đã sống trong yêu thương của cha. Nhưng sau khi mẹ mất, cha Lọ Lem cưới vợ mới – một người đàn bà độc ác có hai cô con gái kiêu kỳ, lười biếng. Khi cha mất, Lọ Lem bị đày đọa sống như người hầu trong chính ngôi nhà của mình. Em phải làm tất cả công việc nặng nhọc, ngủ dưới bếp tro và thường bị gọi bằng cái tên “Lọ Lem” vì người lúc nào cũng dính bồ hóng, tro bụi.
Dù bị đối xử tệ bạc, Lọ Lem vẫn luôn hiền hậu, chịu thương chịu khó. Trái tim em luôn sáng như viên ngọc, không vẩn đục bởi thù hận. Em thường hát những bài ca nhẹ nhàng để xoa dịu nỗi buồn.
Một ngày nọ, hoàng cung tổ chức dạ hội ba đêm liền để hoàng tử chọn vợ. Mẹ kế và hai chị con riêng hí hửng chuẩn bị quần áo đẹp, còn Lọ Lem thì bị cấm không được đi. Em buồn bã khóc một mình, và lúc ấy điều kỳ diệu xảy ra: một bà tiên hiện ra! Thấy Lọ Lem đáng thương, bà hóa phép biến quả bí đỏ thành cỗ xe lộng lẫy, lũ chuột thành ngựa, chuột đồng thành người hầu, và bộ quần áo rách rưới thành chiếc váy dạ hội lấp lánh cùng đôi giày pha lê tuyệt đẹp. Nhưng bà tiên dặn: "Con phải về trước nửa đêm, khi phép màu biến mất."
Tối hôm đó, Lọ Lem bước vào cung điện, rực rỡ và lộng lẫy đến mức không ai nhận ra em. Hoàng tử bị vẻ đẹp dịu dàng ấy cuốn hút, không rời mắt và chỉ khiêu vũ với em suốt buổi tiệc. Nhưng khi đồng hồ điểm 12 giờ, Lọ Lem vội vã rời đi, để lại một chiếc giày pha lê trên cầu thang.
Ngày hôm sau, hoàng tử quyết tâm đi khắp vương quốc để tìm chủ nhân của chiếc giày. Bao cô gái xếp hàng thử, nhưng không ai vừa. Hai người chị của Lọ Lem cũng chen thử, thậm chí còn rạch chân để cố nhét vừa giày. Nhưng hoàng tử vẫn nhận ra sự giả dối.
Cuối cùng, khi đến nhà Lọ Lem, mẹ kế giấu em trong bếp. Nhưng nhờ sự giúp đỡ của những chú chim nhỏ và lòng kiên định, hoàng tử đã tìm thấy em. Chiếc giày vừa khít, và Lọ Lem hiện ra xinh đẹp như trong đêm dạ hội. Hoàng tử nhận ra cô gái mình yêu, liền đưa em về cung làm hoàng hậu.
Kể từ đó, Lọ Lem sống hạnh phúc mãi mãi về sau, còn mẹ kế và hai người chị phải nhận lấy sự trừng phạt xứng đáng.
Cô bé Lọ Lem. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xưa, có một cô bé rất ngoan ngoãn và dễ thương, ai gặp cũng quý mến. Bà ngoại cô bé thương cô nhất, nên tự tay may cho cô một chiếc khăn choàng bằng nhung đỏ. Cô bé thích lắm, đi đâu cũng quàng theo, từ đó ai cũng gọi em là Cô Bé Quàng Khăn Đỏ.
Một ngày nọ, mẹ cô gọi em lại và nói:
– Bà con đang ốm. Mẹ đã chuẩn bị giỏ bánh và sữa. Con hãy mang đến cho bà, nhưng nhớ đi thẳng đường rừng, đừng la cà và cũng đừng nói chuyện với người lạ.
Cô bé vâng lời, xách giỏ bánh lên đường. Trời hôm đó trong xanh, chim hót líu lo, những bông hoa dại đung đưa trong nắng. Đang đi, cô bé gặp một con sói lớn, nhưng vì không biết sói là loài vật nguy hiểm nên không hề sợ. Sói nói:
– Chào cô bé, cô đi đâu đấy?
– Cháu đến nhà bà ngoại. Bà cháu ở cuối rừng, trong căn nhà nhỏ có hàng rào trắng.
Sói mỉm cười nham hiểm. Nó nghĩ thầm: “Nếu mình nhanh chân, có thể đến nhà bà trước, ăn thịt bà, rồi giả làm bà để lừa ăn luôn con bé này.”
Sói liền tìm cách giữ chân cô bé:
– Cô bé nhìn xem, hoa trong rừng đẹp biết bao! Sao cháu không hái một bó tặng bà?
Cô bé nghe bùi tai, liền rẽ vào rừng, mải mê hái hoa. Trong khi đó, sói rẽ sang con đường tắt, chạy một mạch tới nhà bà ngoại.
Sói gõ cửa. Bà yếu ớt hỏi:
– Ai đấy?
– Cháu đây, Quàng Khăn Đỏ, cháu mang bánh và sữa đến cho bà! – Sói giả giọng.
– Vào đi, cửa không khóa. – Bà đáp.
Sói lao vào nhà, nuốt chửng bà trong chớp mắt. Rồi nó mặc áo ngủ của bà, đội mũ ngủ, trèo lên giường giả vờ nằm ngủ, chờ đợi con mồi thứ hai.
Một lúc sau, Cô Bé Quàng Khăn Đỏ tới nơi. Cửa vẫn hé mở. Em vào nhà, ngạc nhiên khi thấy bà trông thật lạ:– Bà ơi, sao tai bà to thế?
– Để bà nghe cháu rõ hơn.
– Bà ơi, sao mắt bà to thế?
– Để bà nhìn cháu rõ hơn.
– Bà ơi, sao tay bà to thế?
– Để bà ôm cháu chặt hơn.
– Bà ơi, sao miệng bà to quá vậy?
– Để bà… ăn cháu ngon hơn!
Ngay lập tức, sói nhảy chồm lên định nuốt cô bé. Em hét lên thất thanh.
May thay, lúc đó có một bác thợ săn đi ngang qua, nghe thấy tiếng kêu liền lao vào. Bác thấy sói nằm trên giường, bụng phình to, liền dùng dao rạch bụng sói. Bà và cô bé cùng chui ra, chỉ bị sợ chứ không sao cả.
Sau đó, cả ba người bỏ đầy đá vào bụng sói rồi khâu lại. Khi sói tỉnh dậy định trốn, nó bị sức nặng của đá kéo ngã xuống mà chết.
Từ đó, Cô Bé Quàng Khăn Đỏ không bao giờ rời khỏi đường chính khi đi trong rừng, và luôn ghi nhớ lời mẹ dặn: không nói chuyện với người lạ.
Cô bé quàng khăn đỏ. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xửa ngày xưa, tại một vương quốc xa xôi, nhà vua và hoàng hậu sống trong lâu đài nguy nga nhưng chưa có con nối dõi. Họ cầu nguyện, ước ao suốt nhiều năm, cho đến một ngày, hoàng hậu hạ sinh một bé gái xinh đẹp như thiên thần. Nhà vua vui mừng mở tiệc lớn mời khắp vương quốc đến dự, đặc biệt là 12 bà tiên để ban phước lành cho công chúa.
Trong bữa tiệc, từng bà tiên ban tặng cho công chúa những món quà kỳ diệu: người cho vẻ đẹp, người cho giọng hát ngọt ngào, người cho trí tuệ thông minh… Nhưng khi đến bà tiên thứ 12, bà tiên thứ 13 – người không được mời vì nhà vua chỉ có 12 chiếc đĩa vàng – bất ngờ xuất hiện. Giận dữ vì bị bỏ quên, bà tiên độc ác rút cây quyền trượng ra nguyền rủa:
– Đến năm 16 tuổi, công chúa sẽ bị kim quay đâm vào ngón tay và chết!
Cả triều đình sững sờ. May thay, bà tiên thứ 12 chưa kịp ban phước liền đứng dậy nói:
– Ta không thể xóa lời nguyền, nhưng có thể giảm nhẹ: công chúa sẽ không chết, mà chỉ rơi vào giấc ngủ kéo dài 100 năm, cho đến khi có hoàng tử thật lòng yêu nàng đến đánh thức.
Dù nhà vua ra lệnh đốt hết mọi trục quay trong vương quốc, số phận vẫn không thể thay đổi...
Năm tháng trôi qua, công chúa lớn lên xinh đẹp, thông minh, và hiền hậu. Vào đúng ngày sinh nhật thứ 16, nàng lang thang trong lâu đài, vô tình đi lạc lên một căn gác cũ kỹ. Trong đó, một bà lão đang quay sợi – chính là bà tiên độc ác đội lốt thường dân. Công chúa tò mò lại gần, chạm tay vào trục quay và... ngón tay nàng chảy máu. Ngay lập tức, nàng ngã xuống giường và chìm vào giấc ngủ sâu.
Lời nguyền ứng nghiệm. Nhưng bà tiên tốt bụng trước đó cũng đã chuẩn bị. Ngay khi công chúa ngủ, cả lâu đài – từ vua, hoàng hậu, lính gác đến đầu bếp, mèo, chó – đều ngủ yên. Một rừng cây rậm rạp mọc lên bao phủ quanh lâu đài, che giấu tất cả khỏi thế giới bên ngoài.
Năm tháng trôi qua. Một trăm năm sau, có một hoàng tử nghe kể về truyền thuyết “Công chúa ngủ trong rừng” và quyết tâm đến khám phá. Rừng cây tưởng chừng không thể vượt qua, nhưng khi chàng hoàng tử đến gần, cây cối tự động tách ra, mở lối vào lâu đài.
Bước vào bên trong, hoàng tử thấy mọi người đang ngủ yên như tượng. Trong căn phòng cuối cùng, chàng thấy công chúa đang nằm ngủ say với vẻ đẹp dịu dàng, thuần khiết. Trái tim chàng rung động. Chàng cúi xuống, nhẹ nhàng hôn lên trán nàng.
Ngay khoảnh khắc ấy, lời nguyền tan biến. Công chúa tỉnh dậy, mỉm cười dịu dàng với hoàng tử. Cùng lúc, cả lâu đài thức tỉnh, vua và hoàng hậu ngơ ngác nhìn quanh, bếp lò cháy bùng, lũ mèo kêu lên,…
Cuối cùng, hoàng tử và công chúa kết hôn trong một lễ cưới long trọng. Họ sống hạnh phúc bên nhau trọn đời, và lời nguyền năm xưa chỉ còn là ký ức xa xăm trong giấc ngủ dài trăm năm.
Công chúa ngủ trong rừng. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xửa ngày xưa, có một nữ hoàng đang ngồi may vá bên cửa sổ, tuyết trắng phủ đầy ngoài trời. Vô tình kim đâm vào tay, máu nhỏ ba giọt trên nền tuyết. Nữ hoàng nhìn tuyết, máu, và khung cửa gỗ mun, rồi thầm ước:
– Ước gì ta có một đứa con gái da trắng như tuyết, môi đỏ như máu và tóc đen như gỗ mun...
Chẳng bao lâu, bà hạ sinh một cô bé đúng như lời ước: xinh đẹp tuyệt trần, tên là Bạch Tuyết. Nhưng tiếc thay, nữ hoàng mất sớm. Vua tái hôn với một người phụ nữ kiêu ngạo, xinh đẹp nhưng độc ác. Bà ta có một chiếc gương thần, mỗi ngày đều hỏi:
– Gương kia ngự ở trên tường,
Ai là người đẹp nhất trần thế?
Gương thần đáp:
– Thưa hoàng hậu, bà đẹp nhất trần gian.
Nhưng khi Bạch Tuyết lớn lên, gương trả lời khác:
– Thưa hoàng hậu, bà đẹp thật, nhưng Bạch Tuyết đẹp hơn nhiều.
Nổi cơn ghen tuông, hoàng hậu sai thợ săn đưa Bạch Tuyết vào rừng và giết đi. Nhưng người thợ săn thương cô bé, tha cho cô rồi bỏ chạy. Bạch Tuyết lang thang trong rừng, cho đến khi thấy một ngôi nhà nhỏ xíu với mọi đồ đạc đều bé tẹo.
Đó là nhà của bảy chú lùn. Cô bé dọn dẹp sạch sẽ rồi ngủ thiếp đi. Tối đến, các chú lùn về nhà, bất ngờ thấy có người lạ, nhưng khi thấy Bạch Tuyết ngoan ngoãn và kể lại chuyện, họ thương cảm và mời cô ở lại. Bảy chú lùn đi làm ban ngày, dặn cô đừng mở cửa cho người lạ.
Biết Bạch Tuyết còn sống, hoàng hậu hóa trang thành bà lão bán hàng và tìm đến rừng sâu. Bà ta ba lần mưu hại Bạch Tuyết:
Lần đầu, bà giả làm người bán dây lưng, siết chặt bụng Bạch Tuyết đến ngất xỉu.
Lần hai, bà tặng một chiếc lược tẩm độc, khi Bạch Tuyết chải liền ngất.
Lần ba, bà đưa một quả táo đỏ nửa bên – một nửa có độc. Bạch Tuyết cắn trúng và gục ngã.
Lần này, các chú lùn không thể cứu cô được. Tưởng cô đã chết, họ đặt nàng vào quan tài pha lê trên núi, ngày đêm trông coi.
Thời gian trôi qua, một hoàng tử đi ngang qua, nhìn thấy cô gái tuyệt đẹp trong quan tài. Chàng thốt lên:
– Nàng chính là người ta tìm kiếm! Xin hãy cho ta mang nàng đi...
Các chú lùn thương xót, đồng ý. Khi lính của hoàng tử nâng quan tài lên, một miếng táo độc văng ra khỏi cổ họng Bạch Tuyết. Nàng mở mắt tỉnh dậy, thở dài như vừa tỉnh từ một giấc mơ dài.
Hoàng tử vui mừng ngỏ lời cầu hôn, Bạch Tuyết đồng ý. Họ tổ chức lễ cưới long trọng, mời cả vương quốc – kể cả mụ hoàng hậu. Khi soi gương, gương trả lời:
– Thưa hoàng hậu, bà đẹp đấy,
Nhưng hoàng hậu mới – đẹp tuyệt trần!
Hoàng hậu ghen tức đến phát điên. Khi đến dự lễ cưới và thấy Bạch Tuyết còn sống, mụ chết đứng vì tức giận, kết thúc số phận độc ác của mình.
Bạch Tuyết và bảy chú lùn. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xửa ngày xưa, có hai vợ chồng ông lão nghèo sống trong một túp lều nát bên bờ biển. Mỗi ngày, ông lão ra khơi quăng lưới, còn bà vợ thì quay sợi trong nhà. Cuộc sống tuy nghèo nhưng yên bình, cho đến một ngày định mệnh...
Hôm ấy, ông lão quăng lưới ba lần. Hai lần đầu chỉ kéo lên toàn rong rêu, vỏ sò. Đến lần thứ ba, ông ngạc nhiên khi thấy trong lưới là một con cá vàng óng ánh, biết nói tiếng người!
Cá vàng van xin:
– Ông lão hiền lành, xin hãy thả tôi trở lại biển. Tôi sẽ đền đáp ông bằng bất kỳ điều ước nào!
Ông lão nhân hậu, không đòi hỏi gì, liền thả cá đi mà chẳng lấy gì cả. Khi trở về, kể cho vợ nghe, bà lão nổi giận mắng:
– Ông thật ngu ngốc! Có cơ hội mà không xin gì! Mau quay lại, bảo nó cho tôi cái máng lợn mới, cái cũ rách nát cả rồi!
Ông lão thở dài, ra biển gọi cá vàng. Cá hiện lên, nghe xong liền nói:
– Về đi, máng lợn mới đã có rồi.
Về nhà, quả nhiên máng mới tinh. Nhưng bà vợ không bằng lòng lâu. Hôm sau, lại bắt ông đi xin... cái nhà mới khang trang. Cá vàng vẫn chiều theo.
Nhưng lòng tham không dừng lại. Ngày qua ngày, bà vợ đòi:
– Làm phu nhân quý tộc!
– Làm nữ hoàng!
– Làm nữ hoàng biển cả, để cá vàng hầu hạ ta mãi mãi!
Ông lão run rẩy ra biển, lần cuối gọi cá. Biển lúc này nổi sóng đen ngòm, gió gào thét. Cá vàng hiện lên, nghe xong chỉ im lặng, rồi lặn xuống không nói lời nào.
Ông lão lủi thủi trở về. Trước mắt ông, không còn lâu đài, không phu nhân, không ngai vàng. Chỉ còn túp lều rách nát và cái máng lợn vỡ ngày nào. Bà vợ ngồi đó, trợn mắt thất thần.
Ông lão đánh cá và con cá vàng. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xửa ngày xưa, trong một vương quốc thanh bình, có một vị vua sống cùng mười một người con trai và một cô con gái út tên là Li-dơ. Nàng là ánh sáng của hoàng cung, dịu dàng như làn gió, trong trẻo như tiếng chim sớm mai. Các hoàng tử rất yêu thương cô em gái bé bỏng của mình.
Nhưng niềm vui ấy chẳng kéo dài lâu. Sau khi mẹ mất, nhà vua cưới một hoàng hậu mới – một mụ phù thủy độc ác, luôn đố kỵ với tình cảm gia đình đầm ấm ấy. Mụ lừa nhà vua, và khi ông đi vắng, mụ thực hiện âm mưu tàn độc: biến mười một hoàng tử thành mười một con thiên nga trắng, đuổi họ khỏi cung điện. Còn Li-dơ, mụ đày ra khỏi lâu đài, hủy hoại cả sắc đẹp nàng bằng phép thuật, khiến ai nhìn cũng tưởng nàng là một cô gái quê xấu xí.
Thế nhưng trái tim trong sáng của Li-dơ không hề lay chuyển. Nàng sống lang thang trong rừng sâu, cầu nguyện mỗi đêm được gặp lại các anh trai mình.
Một ngày nọ, khi ánh chiều tà buông xuống, nàng thấy một đàn thiên nga trắng sà xuống bên bờ hồ. Khi mặt trời vừa khuất, từng con thiên nga dần hóa thành người – chính là các anh trai của nàng! Họ ôm lấy Li-dơ, nước mắt rơi vì mừng rỡ.
Người anh cả nói:
– Chúng ta chỉ có thể hóa thành người mỗi lúc hoàng hôn. Ban ngày, chúng ta phải sống dưới hình dạng thiên nga.
Li-dơ quyết tâm tìm cách giải cứu các anh. Đêm đó, nàng mơ thấy một bà tiên mách rằng:
– Nếu con thật lòng yêu thương, hãy may cho các anh con mười một chiếc áo bằng sợi tầm ma. Nhưng suốt thời gian may áo, không được nói một lời nào, dù chỉ một tiếng – nếu không, phép thuật sẽ vô hiệu.
Không ngần ngại, Li-dơ bắt tay vào làm. Nàng hái từng cành tầm ma đầy gai nhọn, dùng tay trần xe sợi, bị gai đâm rướm máu. Dù đau đớn, nàng vẫn kiên cường, không than thở, không hé môi dù chỉ một lần.
Một ngày nọ, nhà vua của xứ bên đi săn và bắt gặp Li-dơ giữa rừng. Dù nàng im lặng, nét đẹp thuần khiết và ánh mắt buồn khiến nhà vua đem lòng thương. Ông đưa nàng về cung, chăm sóc, và ngỏ ý muốn cưới nàng làm hoàng hậu. Li-dơ không thể trả lời, chỉ cúi đầu chấp nhận, tiếp tục âm thầm may áo.
Nhưng rồi, người đời bắt đầu nghi ngờ nàng. “Một cô gái không nói, lại suốt ngày lén lút với những cành gai?” – họ đồn rằng nàng là phù thủy, muốn hãm hại nhà vua. Cuối cùng, nàng bị kết án hoả thiêu.
Trong lúc bị dẫn ra pháp trường, Li-dơ vẫn miệt mài may chiếc áo cuối cùng. Đúng lúc đó, mười một con thiên nga trắng bay vụt xuống giữa bầu trời rực nắng. Li-dơ nhanh chóng khoác từng chiếc áo lên họ – và họ biến lại thành người, chỉ có người em út vẫn còn một bên tay là cánh thiên nga vì chiếc áo may dở dang.
Phép thuật đã hóa giải. Li-dơ ôm lấy các anh trong nước mắt. Khi ấy, nàng mới cất lời – giọng nói đầu tiên sau bao tháng ngày im lặng:
– Em đã giữ lời hứa. Em đã cứu được các anh.
Nhà vua, chứng kiến tất cả, vô cùng cảm động và lập tức hủy bỏ án phạt. Ông cưới Li-dơ làm hoàng hậu thật sự. Bọn vu oan bị trừng trị, còn mụ phù thủy độc ác bị đày đi mãi mãi.
Từ đó, Li-dơ và các anh sống hạnh phúc, đem đến hòa bình cho hai vương quốc, và lòng dũng cảm thầm lặng của nàng trở thành huyền thoại qua bao thế hệ.
Bầy chim thiên nga. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xửa ngày xưa, trong khu rừng xanh tươi mát, có một chú Thỏ nổi tiếng với đôi chân nhanh nhẹn và tài chạy cực giỏi. Thỏ ta thường khoe khoang khắp nơi về tốc độ của mình, lúc nào cũng vỗ ngực nói:
– Trong khu rừng này, ai chạy nhanh hơn tôi chứ? Không ai cả!
Thỏ chạy như bay từ sáng đến tối, nhảy nhót khắp nơi. Các loài vật khác dù thích Thỏ, nhưng cũng bắt đầu thấy chán khi cứ nghe Thỏ khoe mãi. Một hôm, trong khi Thỏ đang khoe khoang như thường lệ, thì chú Rùa – một con vật nổi tiếng là chậm chạp – từ tốn nói:
– Thỏ ơi, đừng vội kiêu ngạo. Dù tôi chậm, nhưng nếu cố gắng, tôi tin mình cũng có thể thắng cậu trong một cuộc đua.
Mọi con vật đều tròn mắt ngạc nhiên. Thỏ thì ôm bụng cười lăn:
– Ha ha ha! Rùa mà đòi đua với tôi á? Thật là buồn cười! Nhưng nếu cậu thích, tôi sẵn sàng!
Vậy là cả khu rừng háo hức chờ đợi cuộc đua. Đường đua được vạch từ bìa rừng đến gốc cây cổ thụ to lớn bên con suối mát.
Khi có hiệu lệnh xuất phát, Thỏ phóng như tên bắn, còn Rùa thì lặng lẽ nhấc từng bước chậm chạp. Nhưng Rùa không hề dừng lại, từng bước đều đều, chắc chắn. Thỏ chạy được một đoạn dài, thấy Rùa ở tít phía sau liền nghĩ:"Rùa chậm như thế, mình tranh thủ chợp mắt một chút rồi chạy tiếp cũng được!"
Thế là Thỏ ngả mình dưới một tán cây râm mát, lim dim ngủ lúc nào không hay.
Trong khi đó, Rùa vẫn kiên trì bước đi, dù mệt nhưng không dừng lại. Cậu thở hổn hển nhưng mắt luôn hướng về đích. Rồi cậu vượt qua Thỏ đang ngủ say và cứ thế tiếp tục tiến về phía trước.
Đến khi Thỏ tỉnh dậy, mặt trời đã ngả bóng. Cậu bật dậy, chạy như bay đến đích, nhưng... Ôi không! Rùa đã đến từ lúc nào rồi, đang ngồi nghỉ dưới gốc cây, cười hiền lành!
Thỏ thẹn quá, không nói được lời nào. Rùa nhẹ nhàng nói:
– Chạy nhanh không bằng kiên trì, Thỏ à. Không nên chủ quan, cũng đừng coi thường người khác!
Từ đó, Thỏ không còn kiêu ngạo nữa. Cậu và Rùa trở thành đôi bạn thân, cùng nhau luyện tập và giúp đỡ các con vật khác trong rừng.
Rùa và thỏ. Nguồn: Miền Cổ Tích
Ngày xửa ngày xưa, ở xứ Ba Tư xa xôi, có hai anh em: Ali Baba và Kasim. Cha mất sớm, để lại cho hai người con trai một ngôi nhà và một mảnh vườn nhỏ. Kasim tham lam, cưới vợ giàu có, trở nên khá giả. Ali Baba hiền lành, lấy vợ nghèo, sống bằng nghề đốn củi, vất vả nhưng lương thiện.
Một hôm, khi đang vào rừng đốn củi, Ali Baba bỗng nghe tiếng vó ngựa dồn dập. Anh vội trèo lên cây ẩn nấp. Dưới gốc cây, 40 tên cướp cưỡi ngựa kéo đến, ai nấy đều mang gươm giáo và túi đầy vàng bạc. Tên cầm đầu đứng trước vách núi đá, giơ tay hô to:
– Vừng ơi, mở ra!
Ngay lập tức, tảng đá tách đôi, hiện ra một hang động bí mật. Cả bọn lần lượt dắt ngựa vào bên trong. Một lát sau, chúng bước ra tay không, rồi tên đầu đàn hô lớn:
– Vừng ơi, đóng lại!
Hang núi đóng sập. Bọn cướp lên ngựa phi đi. Đợi chúng khuất bóng, Ali Baba run rẩy bước đến, thử nói:
– Vừng ơi, mở ra!
Cửa đá lại mở. Bên trong là kho báu khổng lồ: vàng, bạc, đá quý chất thành đống. Ali Baba thốt lên: “Trời ơi, thế này đủ nuôi cả làng!” Nhưng anh chỉ lấy một ít vàng đựng vào túi vải, lén lút rời đi, không quên đóng cửa lại.
Về đến nhà, vợ Ali Baba kinh ngạc. Họ dùng vàng trả nợ và sống đạm bạc như trước. Nhưng vì không có cân, vợ anh mượn cân nhà Kasim. Bà chị dâu thấy lạ, nên bôi sáp dưới đáy cân để xem họ đang cân gì. Khi trả lại, bà phát hiện một đồng vàng dính dưới cân – và kể ngay cho Kasim.
Ghen tức, Kasim gặng hỏi bí mật. Ali Baba thật thà kể hết. Kasim vội đi đến hang, miệng lẩm nhẩm câu thần chú:
– Vừng ơi, mở ra!
Cửa mở. Kasim vào trong, tham lam chất đầy bao vàng. Nhưng khi định đi ra, hắn quên mất câu thần chú, loay hoay mãi chỉ nhớ “Đậu ơi, mở ra!”, “Ngô ơi…”, nhưng vô ích. Đúng lúc ấy, bọn cướp quay lại – thấy người lạ, chúng giết Kasim tại chỗ.
Khi Kasim không về, Ali Baba lo lắng đi tìm và phát hiện xác anh. Anh mang xác về chôn cất đàng hoàng. Nhưng từ đó, bọn cướp nghi ngờ có kẻ khác biết bí mật, nên quyết tìm bằng được.
Chúng lần theo dấu vết về nhà Ali Baba. Nhưng may thay, trong nhà có người hầu gái thông minh tên là Morgiana. Cô phát hiện âm mưu: bọn cướp giả làm người buôn dầu, giấu đồng bọn trong chum. Tối đến, Morgiana lấy nước sôi đổ vào từng chum, giết hết bọn cướp đang ẩn nấp.
Tên thủ lĩnh sống sót, sau đó quay lại trả thù bằng cách trà trộn vào nhà Ali Baba. Nhưng Morgiana nhận ra hắn, và trong một buổi tiệc, cô dùng dao đâm chết hắn, cứu Ali Baba một lần nữa.
Ali Baba vô cùng cảm kích, xem Morgiana như người thân, và gả cô cho con trai mình. Anh thề sẽ dùng kho báu chỉ để sống tốt và giúp người nghèo. Sau này, chỉ dạy bí mật cho con trai khi anh sắp mất.
Từ đó, Ali Baba sống hạnh phúc, giàu sang nhưng khiêm nhường, còn câu “Vừng ơi, mở ra” thì trở thành câu thần chú nổi tiếng mãi mãi trong mọi phiên bản cổ tích.
Alibaba và 40 tên cướp. Nguồn: Câu chuyện cổ tích Việt Nam
2.10 Bộ quần áo mới của Hoàng đế
Ngày xửa ngày xưa, có một ông vua vô cùng thích quần áo đẹp. Ông chẳng quan tâm đến việc triều chính hay chiến tranh, suốt ngày chỉ mải mê chọn vải, thử đồ, thay y phục từ sáng đến tối. Trong một ngày, ông thay tới... mười hai bộ áo!
Tin đồn về sự mê thời trang của ông vang khắp nước. Một hôm, có hai kẻ lừa đảo đến kinh thành, giả làm thợ may tài ba. Chúng nói:
– Tâu hoàng thượng, chúng thần dệt được một loại vải tuyệt vời mà người ngu dốt hay kém cỏi sẽ không thể nhìn thấy. Chỉ những người thông minh, xứng đáng mới thấy được vẻ đẹp thật sự của nó.
Vua vừa nghe liền sáng mắt:
– Tuyệt quá! Nếu ta mặc đồ đó, ta có thể phân biệt được ai trong triều thông minh, ai ngu ngốc!
Ngay lập tức, ông ra lệnh cấp vàng bạc, tơ lụa cho hai "thợ may" để họ bắt tay vào "dệt vải".
Hai kẻ lừa đảo dựng khung cửi, ngồi dệt... nhưng chẳng có sợi nào cả. Tuy vậy, cả ngày chúng vẫn làm như đang chăm chỉ lao động. Vua cho quan đại thần đến kiểm tra. Khi đến nơi, vị quan không thấy gì cả, nhưng vì sợ bị chê ngu dốt, ông ta vẫn nói:
– Tuyệt đẹp! Thật là một kiệt tác!
Các quan khác được cử tới sau cũng nối nhau khen lấy khen để, dù chẳng ai thấy gì.
Cuối cùng, hoàng đế đích thân đến xem. Ông nhìn mãi mà vẫn thấy trống trơn, nhưng không dám nhận, sợ bị coi là... ngu. Thế là ông cũng reo lên:
– Thật lộng lẫy! Ta muốn mặc nó trong buổi rước lễ tuần sau!
Hai tên thợ may vờ như giúp vua thay đồ. Chúng giả vờ mặc từng lớp vải, gắn từng chiếc nút, nâng từng nếp áo… rồi nói:
– Xong rồi, bệ hạ! Xin ngài bước ra chiêm ngưỡng!
Vua oai vệ bước ra giữa quảng trường, không mặc gì cả, nhưng ai cũng giả vờ trầm trồ vì không ai dám thừa nhận là mình "ngu". Họ thi nhau khen:
– Đẹp chưa từng thấy!
– Ôi cái áo viền tinh xảo làm sao!
– Vua thật oai phong, như ánh mặt trời!
Đoàn rước đi qua phố nọ, bất chợt có một em bé con hét to:
– Ơ kìa, vua không mặc gì hết!
Người lớn xung quanh bối rối, nhưng rồi tiếng xì xào nổi lên:
– Đúng rồi! Vua... trần truồng thật mà!
Lúc này ai nấy đều hiểu ra sự thật, không thể tiếp tục giả vờ. Cả đoàn người ồ lên cười.
Hoàng đế mặt đỏ như gấc, xấu hổ vô cùng, nhưng ông vẫn phải giữ vẻ mặt lạnh lùng, tiếp tục bước đi, đầu ngẩng cao… và tiếp tục rước lễ trong bộ "quần áo vô hình" ấy.
Từ đó, chuyện “Bộ quần áo mới của hoàng đế” được truyền miệng như một bài học nhẹ nhàng mà sâu sắc: đôi khi trẻ con – với sự trong sáng – mới là người dám nói lên sự thật, còn người lớn thì lại sợ mất mặt, sợ bị đánh giá, mà dễ bị lừa bởi chính lòng kiêu hãnh của mình.
Bộ quần áo mới của Hoàng Đế. Nguồn: Truyện Cổ Tích Cho Trẻ Em
Những câu chuyện cổ tích không chỉ mang đến giấc ngủ êm đềm mà còn nuôi dưỡng tâm hồn, dạy bé biết yêu thương, dũng cảm và phân biệt đúng sai. Hy vọng danh sách 30+ truyện cổ tích trên sẽ là người bạn đồng hành cùng ba mẹ mỗi tối, giúp bé có tuổi thơ thật trọn vẹn và nhiều ký ức đẹp. Đừng quên lưu lại để kể dần cho bé mỗi ngày nhé!
Bài viết có hữu ích với bạn không?
Có
Không
Cám ơn bạn đã phản hồi!






























