Dẫn dắt: Nêu hoàn cảnh em biết đến câu chuyện (qua sách giáo khoa, truyện tranh lịch sử, phim ảnh hoặc lời kể của ông bà).
Giới thiệu nhân vật: Tên nhân vật lịch sử là ai? Sống ở thời kỳ nào? (Ví dụ: Chị Võ Thị Sáu, người con gái Đất Đỏ kiên trung).
Ấn tượng chung: Nêu cảm xúc ngắn gọn về nhân vật (ngưỡng mộ, tự hào, xúc động).
a. Giới thiệu bối cảnh và lý do xuất hiện câu chuyện
Thời gian, không gian xảy ra câu chuyện (Ví dụ: Thời kỳ kháng chiến chống Pháp sục sôi).
Hoàn cảnh của nhân vật lúc bấy giờ (Ví dụ: Chị Sáu tham gia cách mạng từ khi còn rất trẻ).
b. Kể lại diễn biến chính của câu chuyện (Sử dụng yếu tố tự sự)
Sự việc khởi đầu: Nhân vật đã thực hiện những hành động anh hùng nào? (Ví dụ: Chị Sáu ném lựu đạn tiêu diệt quân Pháp, bị giặc bắt).
Sự việc phát triển (Cao trào): Thái độ của nhân vật khi đối mặt với hiểm nguy hoặc kẻ thù.
Sự kiên cường, không khuất phục trước đòn roi tra tấn.
Những lời nói đanh thép, khẳng định lòng yêu nước.
(Ví dụ: Hình ảnh chị Sáu ung dung đi giữa hai hàng lính, miệng mỉm cười và hát vang bài ca cách mạng).
Sự việc kết thúc: Kết cục của câu chuyện và sự hy sinh (hoặc chiến thắng) của nhân vật. (Ví dụ: Hình ảnh chị Sáu hiên ngang trước họng súng kẻ thù tại pháp trường Côn Đảo).
c. Phân tích phẩm chất nhân vật qua câu chuyện
Lòng yêu nước nồng nàn, dũng cảm, bất khuất.
Sự hy sinh quên mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Khẳng định ý nghĩa: Nhân vật đã để lại bài học gì cho thế hệ mai sau? (Sự trân trọng hòa bình, lòng biết ơn).
Liên hệ bản thân: Em sẽ làm gì để xứng đáng với sự hy sinh của các bậc cha anh? (Học tập tốt, rèn luyện đạo đức).
Lời hứa: Quyết tâm giữ gìn và phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc.
Bên cạnh việc rèn luyện thói quen học tập tốt, cha mẹ cũng nên quan tâm đến dinh dưỡng hằng ngày cho bé. Các sản phẩm như sữa tươi, sữa chua, sữa lúa mạch hay sữa hạt,... là lựa chọn tiện lợi, giàu dưỡng chất, giúp bé bổ sung năng lượng, canxi, vitamin và khoáng chất cần thiết. Với thiết kế nhỏ gọn, dễ mang theo, những loại sữa này rất phù hợp để bé dùng trong giờ ra chơi hoặc mang đến trường, giúp bé luôn khỏe mạnh, học tập tập trung và phát triển toàn diện.
Trong những câu chuyện lịch sử em đã được đọc, em thích nhất là câu chuyện về người anh hùng nhỏ tuổi Trần Quốc Toản với điển tích "Bóp nát quả cam".
Hồi đó, giặc Nguyên sang xâm lược nước ta với thái độ rất hống hách. Vua Trần họp bàn việc quân cùng các vương hầu dưới bến Bình Than. Vì còn quá nhỏ tuổi, Trần Quốc Toản không được dự bàn. Đứng trên bờ, lòng cậu nóng như lửa đốt, vừa tức giận quân giặc, vừa buồn vì chưa được giúp vua. Trong tay cậu cầm một quả cam vua ban, vì quá căm thù giặc mà cậu đã vô tình bóp nát quả cam lúc nào không hay.
Không nản chí, về nhà, cậu đã tập hợp những người thân thuộc và thanh niên trong vùng, sắm sửa vũ khí và đóng một chiếc thuyền lớn. Trên lá cờ thêu sáu chữ vàng: "Phá cường địch, báo hoàng ân". Đội quân của cậu đã đánh cho quân giặc nhiều phen khiếp vía. Hình ảnh người thiếu niên dũng cảm cưỡi ngựa, tay cầm binh khí, lá cờ đỏ bay phất phới luôn là tấm gương sáng về lòng yêu nước để em học tập.
Mỗi khi nghe bài hát "Biết ơn chị Võ Thị Sáu", lòng em lại dâng lên niềm xúc động và ngưỡng mộ khôn xiết về người con gái Đất Đỏ kiên trung.
Chị Sáu tham gia cách mạng khi mới 14 tuổi. Chị rất thông minh và dũng cảm, nhiều lần vượt qua sự kiểm soát của giặc để làm nhiệm vụ. Trong một lần đánh giặc, chị không may bị bắt. Dù bị tra tấn dã man, chị vẫn không hề hé môi khai báo. Cuối cùng, thực dân Pháp đã đày chị ra Côn Đảo và kết án tử hình.
Trên đường ra pháp trường, chị vẫn ung dung, mỉm cười và hát vang bài ca cách mạng. Khi tên đao phủ định bịt mắt chị, chị đã dũng cảm gạt ra và nói: "Không cần bịt mắt tôi. Hãy để cho đôi mắt tôi được nhìn đất nước thân yêu đến giây phút cuối cùng". Chị ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ, nhưng tinh thần của chị vẫn còn sống mãi trong trái tim mỗi người dân Việt Nam.
Xem thêm: 30+ bài văn thuyết minh về cây bút bi siêu hay, điểm cao
Ở trường, em là đội viên nên em rất tự hào khi được kể về anh Kim Đồng – người đội trưởng đầu tiên của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
Anh Kim Đồng tên thật là Nông Văn Dền, quê ở Cao Bằng. Anh làm nhiệm vụ giao liên, chuyển thư từ và dẫn đường cho các cán bộ cách mạng. Anh rất thông minh, thường giả vờ đi chăn bò hoặc đi câu cá để quan sát tình hình địch. Có lần, bị giặc bắt gặp, anh đã nhanh trí lừa chúng để các cán bộ kịp thời tản ra nơi an toàn.
Trong một lần đi liên lạc, khi thấy giặc đang phục kích gần nơi họp của cán bộ, anh Kim Đồng đã nhanh trí đánh lạc hướng địch để bảo vệ cách mạng. Tiếng súng nổ vang, anh đã hy sinh anh dũng ngay bên bờ suối Lê-nin. Anh ra đi khi tuổi còn rất nhỏ, nhưng lòng dũng cảm của anh đã trở thành ngọn đuốc sáng cho thiếu nhi Việt Nam noi theo.
Lịch sử nước ta có rất nhiều nữ anh hùng, nhưng người đặt nền móng cho tinh thần bất khuất của phụ nữ Việt Nam chính là Hai Bà Trưng.
Hồi đó, nước ta bị quân Đông Hán đô hộ, nhân dân vô cùng cực khổ. Thái thú Tô Định lại vô cùng tàn ác, giết chết Thi Sách – chồng bà Trưng Trắc. Để trả nợ nước, thù nhà, hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị đã phất cờ khởi nghĩa tại cửa sông Hát. Lời thề của Hai Bà vang vọng khắp núi sông: "Một xin rửa sạch quốc thù/ Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng".
Hình ảnh Hai Bà Trưng cưỡi voi ra trận, mặc áo giáp vàng, tay cầm gươm uy nghi đã làm quân giặc khiếp sợ. Chỉ trong một thời gian ngắn, Hai Bà đã thu lại được sáu mươi lăm thành quách, đem lại độc lập cho đất nước. Câu chuyện của Hai Bà nhắc nhở em rằng phụ nữ Việt Nam cũng vô cùng mạnh mẽ và yêu nước.
Em rất ấn tượng với chiến thắng trên sông Bạch Đằng của đức vua Ngô Quyền. Đây là một câu chuyện lịch sử vô cùng hào hùng.
Năm 938, quân Nam Hán kéo quân sang xâm lược nước ta theo đường biển. Ngô Quyền đã nảy ra một kế sách vô cùng thông minh. Ông cho quân lính đốn gỗ, vót nhọn rồi đóng cọc xuống lòng sông Bạch Đằng. Khi thủy triều lên, nước che lấp các bãi cọc, ông cho quân ra khiêu chiến rồi giả vờ thua chạy.
Quân giặc chủ quan đuổi theo, lọt vào vùng cắm cọc. Chờ khi thủy triều rút, Ngô Quyền hạ lệnh phản công. Thuyền giặc đâm vào cọc nhọn, chiếc thì vỡ, chiếc thì đắm, quân ta đánh tan tác quân thù. Chiến thắng này đã chấm dứt hơn một nghìn năm Bắc thuộc, mở ra thời kỳ độc lập lâu dài cho dân tộc ta. Em rất ngưỡng mộ trí tuệ và tài thao lược của ông.
Hồi nhỏ, em thường được bà kể cho nghe câu chuyện về cậu bé chăn trâu Đinh Bộ Lĩnh với trò chơi "Cờ lau tập trận".
Đinh Bộ Lĩnh quê ở Ninh Bình. Ngay từ nhỏ, ông đã lộ rõ tư chất của một người lãnh đạo. Ông thường cùng nhóm bạn chăn trâu tổ chức những trận giả. Ông được tôn làm tướng, lấy hoa lau làm cờ, cưỡi trên lưng trâu đi giữa hàng quân rất uy nghi. Các bạn chăn trâu đều kính nể, khoanh tay làm kiệu rước ông.
Khi lớn lên, giữa lúc đất nước bị chia cắt bởi "Loạn 12 sứ quân", ông đã đứng lên tập hợp lực lượng. Với tài năng quân sự xuất chúng, ông lần lượt dẹp tan các sứ quân, thống nhất đất nước, lên ngôi vua lấy hiệu là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Câu chuyện của ông dạy em rằng: muốn làm việc lớn, cần phải rèn luyện ý chí và tài năng ngay từ khi còn nhỏ.
Trong các giờ học lịch sử, em luôn nhớ về hình ảnh vị tướng tài ba Lý Thường Kiệt và bài thơ thần khẳng định chủ quyền dân tộc.
Vào thời nhà Lý, quân Tống sang xâm lược nước ta. Lý Thường Kiệt đã chỉ huy quân dân lập phòng tuyến vững chắc bên sông Cầu (sông Như Nguyệt). Để khích lệ tinh thần binh sĩ và làm quân giặc khi sợ, đêm đêm, ông đã cho người vào đền thờ dọc sông và ngâm vang bài thơ "Nam quốc sơn hà".
Tiếng ngâm thơ dõng dạc trong đêm tối khiến quân giặc hoang mang, tưởng là lời của thần linh. Dưới sự chỉ huy của ông, quân ta đã phản công mạnh mẽ, khiến quân Tống thất bại thảm hại và phải xin hòa. Lý Thường Kiệt là một tấm gương về lòng yêu nước và trí tuệ, là người đã khẳng định với thế giới rằng Việt Nam là một quốc gia độc lập và có chủ quyền.
Câu chuyện "Sự tích Hồ Gươm" kể về vua Lê Lợi đã để lại trong em nhiều ấn tượng sâu sắc.
Khi quân Minh sang xâm lược nước ta, nhân dân sống trong cảnh lầm than. Lê Lợi đã dựng cờ khởi nghĩa tại Lam Sơn (Thanh Hóa). Những ngày đầu, quân ta gặp rất nhiều khó khăn, nhưng nhờ sự đoàn kết và lòng quyết tâm, nghĩa quân Lam Sơn ngày càng mạnh mạnh. Lê Lợi đã được Long Quân cho mượn thanh gươm thần để đánh giặc.
Sau mười năm chiến đấu gian khổ, quân ta đã giành lại độc lập. Lê Lợi lên ngôi vua, mở ra triều đại nhà Lê rực rỡ. Câu chuyện ông trả gươm cho Rùa vàng tại hồ Tả Vọng (nay là Hồ Gươm) cho em thấy dân tộc Việt Nam dù rất dũng cảm đánh giặc nhưng cũng là một dân tộc rất yêu chuộng hòa bình.
Mỗi dịp Tết đến, em lại nhớ về chiến thắng thần tốc của vua Quang Trung vào mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789.
Khi quân Thanh tràn sang xâm lược nước ta, Nguyễn Huệ đã lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Quang Trung và thần tốc kéo quân ra Bắc. Ông đã tổ chức một cuộc hành quân nhanh chưa từng có trong lịch sử. Đêm giao thừa, quân ta bắt đầu tấn công. Vua Quang Trung cưỡi voi đi đầu, đốc thúc quân sĩ xông lên.
Chỉ trong vòng 5 ngày tết, quân ta đã đánh tan 20 vạn quân Thanh, giải phóng kinh thành Thăng Long. Tướng giặc là Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử, Tôn Sĩ Nghị thì hoảng sợ bỏ chạy. Hình ảnh vua Quang Trung với chiếc áo bào sạm đen khói súng ngày mùng 5 Tết là biểu tượng cho sức mạnh và tốc độ của dân tộc Việt Nam.
Xem thêm:
Trong các vị tướng thời nhà Trần, em rất thích câu chuyện về ông Phạm Ngũ Lão với chi tiết "Ngồi đan sọt mà không biết mình bị giáo đâm".
Phạm Ngũ Lão vốn là một thanh niên nghèo ở làng Phù Ủng. Một hôm, ông ngồi bên vệ đường đan sọt mà mải mê suy nghĩ về việc nước, đến nỗi quân lính của Hưng Đạo Vương đi qua, lấy giáo đâm vào đùi chảy máu mà ông vẫn không hề hay biết. Thấy lạ, Hưng Đạo Vương dừng kiệu hỏi chuyện. Qua lời đối đáp, thấy ông là người có chí lớn, Hưng Đạo Vương đã đưa ông về kinh thành đào tạo.
Nhờ sự nỗ lực và tài năng, Phạm Ngũ Lão đã trở thành một vị tướng tài ba, lập nhiều chiến công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông. Câu chuyện của ông nhắc nhở em phải luôn quan tâm đến việc học tập và trách nhiệm đối với đất nước ngay từ những việc nhỏ hằng ngày.
Trong kháng chiến chống Pháp, có một người anh hùng đã khiến em vô cùng xúc động khi đọc về ý chí sắt đá của ông, đó là anh La Văn Cầu.
Năm 1950, trong chiến dịch Biên giới, đơn vị của anh Cầu có nhiệm vụ phá hủy lô cốt giặc tại Đông Khê. Giữa lúc trận chiến đang diễn ra ác liệt, anh Cầu không may bị trúng đạn, cánh tay phải bị gãy nát và treo lủng lẳng. Đau đớn vô cùng nhưng vì nhiệm vụ chưa hoàn thành, anh đã nhờ đồng đội dùng lưỡi mác chặt đứt cánh tay vướng víu ấy đi để tiếp tục xông lên. Với một cánh tay còn lại, anh vẫn ôm bộc phá vượt qua làn đạn, giật ngòi nổ phá tan lô cốt địch, mở đường cho quân ta tiến lên chiến thắng. Hình ảnh người chiến sĩ dũng cảm hi sinh một phần cơ thể vì Tổ quốc đã để lại trong em lòng biết ơn vô hạn.
Nhắc đến lịch sử nhà Trần, không ai là không biết đến Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn – vị anh hùng ba lần đánh tan quân Nguyên Mông xâm lược.
Ông không chỉ là một nhà quân sự lỗi lạc mà còn là một tấm gương sáng về lòng đoàn kết. Có lần, để xóa bỏ hiềm khích gia đình, ông đã chủ động mời Trần Quang Khải đến tắm và kỳ lưng cho nhau trên thuyền, giúp toàn quân đồng lòng đánh giặc. Bài "Hịch tướng sĩ" của ông vang vọng núi sông, thôi thúc binh sĩ xăm lên tay hai chữ "Sát Thát" (giết giặc Nguyên) để thể hiện quyết tâm. Dưới sự chỉ huy của ông, quân dân ta đã lập nên những chiến thắng lẫy lừng trên sông Bạch Đằng, Chương Dương, Hàm Tử. Ông chính là người cha già kính yêu, là biểu tượng cho sức mạnh và trí tuệ Việt Nam.
Trong nghĩa quân Tây Sơn, em đặc biệt ngưỡng mộ bà Bùi Thị Xuân – một nữ tướng lừng danh với tài điều khiển voi chiến và kiếm thuật tinh thông.
Bà là vợ của trung thần Trần Quang Diệu. Hình ảnh bà Bùi Thị Xuân cưỡi voi ra trận, vung gươm chỉ huy hàng quân xông lên giữa khói lửa mù mịt đã trở thành một biểu tượng hào hùng. Bà không chỉ giỏi võ nghệ mà còn rất mực trung thành. Khi nghĩa quân gặp khó khăn, bà vẫn kiên cường chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ vương triều Tây Sơn. Dù là phụ nữ nhưng lòng dũng cảm và khí tiết của bà không thua kém bất kỳ đấng nam nhi nào. Câu chuyện về bà dạy em rằng, phụ nữ Việt Nam luôn mang trong mình dòng máu anh hùng, sẵn sàng đứng lên khi đất nước cần.
Câu chuyện về trạng nguyên Nguyễn Hiền – vị Trạng nguyên trẻ tuổi nhất trong lịch sử Việt Nam – luôn là động lực giúp em cố gắng học tập.
Nguyễn Hiền quê ở Nam Định, nhà nghèo nhưng từ nhỏ đã vô cùng thông minh. Vì không có tiền đi học, cậu thường đứng ngoài cửa lớp nghe thầy giảng bài hoặc dùng gạch non viết chữ xuống nền đất. Tuy mới 12 tuổi nhưng cậu đã am hiểu kinh sách và có tài ứng biến kỳ lạ. Trong kỳ thi đình năm ấy, cậu đã vượt qua tất cả các sĩ tử lớn tuổi để đỗ đầu. Khi sứ giả nước phương Bắc đưa ra những câu đố hóc búa, cậu đã dùng trí thông minh của mình để giải đáp, khiến họ phải nể phục tài năng của người Việt. Nguyễn Hiền chính là tấm gương "vượt khó học giỏi" sáng ngời cho chúng em noi theo.
Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu có sự đóng góp bằng máu xương của rất nhiều anh hùng, trong đó có anh Phan Đình Giót.
Trong trận đánh vào cứ điểm Him Lam, hỏa lực từ lỗ châu mai của giặc Pháp bắn ra rất mạnh, làm nhiều chiến sĩ của ta bị thương, quân ta không thể tiến lên được. Giữa giây phút sinh tử ấy, anh Phan Đình Giót đã quyết định thực hiện một hành động vô cùng dũng cảm. Anh dồn hết sức lực còn lại, lao mình vào bịt kín lỗ châu mai của địch. Tiếng súng giặc bỗng im bặt, quân ta thừa thắng xông lên tiêu diệt toàn bộ cứ điểm. Sự hy sinh lẫm liệt của anh Phan Đình Giót đã trở thành một thiên anh hùng ca, nhắc nhở chúng em về cái giá của hòa bình hôm nay.
Một tấm gương anh hùng khác trong chiến dịch Điện Biên Phủ mà em vô cùng kính trọng chính là anh Tô Vĩnh Diện.
Lúc bấy giờ, quân ta phải dùng sức người để kéo những khẩu pháo nặng hàng tấn lên những đỉnh núi cao vút. Trong một lần xuống dốc, sợi dây tời bị đứt, khẩu pháo khổng lồ bắt đầu trôi băng băng xuống vực sâu. Không một chút do dự, anh Tô Vĩnh Diện đã lao mình ra, lấy chính thân thể mình để chèn vào bánh pháo, ngăn không cho pháo rơi xuống vực. Anh đã hy sinh, nhưng khẩu pháo – tài sản quý giá của quân đội – đã được giữ an toàn. Hành động "thà hy sinh chứ không để pháo hỏng" của anh đã tiếp thêm sức mạnh cho hàng vạn chiến sĩ tiến về phía trước để giành lấy chiến thắng cuối cùng.
Thầy giáo Chu Văn An là người mà em luôn nhớ tới mỗi khi nghĩ về đạo làm trò và tinh thần hiếu học.
Ông là một nhà giáo mẫu mực, tài cao đức trọng dưới thời nhà Trần. Thầy Chu Văn An nổi tiếng là người chính trực, không màng danh lợi. Khi thấy trong triều có những kẻ xấu lộng hành, ông đã dũng cảm dâng "Thất trảm sớ" xin vua chém đầu bảy tên nịnh thần. Khi vua không nghe, ông đã từ quan về quê dạy học, sống một cuộc đời thanh bạch. Học trò của ông có nhiều người đỗ đạt cao nhưng vẫn luôn giữ lễ nghĩa và kính trọng thầy. Thầy Chu Văn An được tôn là "Vạn thế sư biểu" (người thầy của muôn đời), nhắc nhở em luôn phải biết ơn những người thầy, người cô đã dạy dỗ mình.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hình ảnh anh Nguyễn Văn Trỗi hiên ngang trên pháp trường đã trở thành một biểu tượng của lòng yêu nước bất diệt.
Anh Trỗi là một công nhân điện ở Sài Gòn, anh tham gia cách mạng và nhận nhiệm vụ đặt mìn ở cầu Công Lý để tiêu diệt giặc. Việc không thành, anh bị bắt và bị kết án tử hình. Tại pháp trường, trước họng súng của kẻ thù, anh không hề sợ hãi mà vẫn dõng dạc hô vang: "Việt Nam muôn năm!" ba lần. Anh từ chối bịt mắt để được nhìn thấy mảnh đất quê hương lần cuối cùng. Ý chí sắt đá và lời hô hào lẫm liệt của anh đã truyền lửa cho hàng triệu thanh niên cả nước đứng lên chiến đấu. Anh ra đi khi còn rất trẻ, để lại niềm tự hào sâu sắc cho thế hệ trẻ hôm nay.
Trong lịch sử nhà Nguyễn, vua Duy Tân là một vị vua trẻ tuổi nhưng có lòng yêu nước vô cùng nồng nàn.
Lên ngôi khi mới 7 tuổi, tuy nhỏ tuổi nhưng vua Duy Tân đã sớm bộc lộ tinh thần phản kháng lại sự đô hộ của thực dân Pháp. Ông thường mặc đồ giản dị, đi sâu vào đời sống nhân dân và bí mật liên lạc với các nhà yêu nước để bàn kế hoạch khởi nghĩa. Có lần, khi giặc Pháp hỏi về việc đôi bàn tay nhà vua bị bẩn do nghịch đất, ông đã khéo léo trả lời: "Nước bẩn thì lấy tay mà rửa, nhưng tay bẩn thì lấy nước mà rửa". Câu nói ấy mang ngụ ý sâu cay về việc cứu nước. Dù cuộc khởi nghĩa không thành và ông bị lưu đày, nhưng tinh thần dân tộc của vị vua trẻ mãi là tấm gương về lòng tự tôn dân tộc.
Bác Tôn Đức Thắng là người bạn chiến đấu thân thiết của Bác Hồ, một người con ưu tú của vùng đất An Giang miền Tây Nam Bộ.
Bác Tôn nổi tiếng với tinh thần cách mạng kiên cường, từng bị giặc Pháp giam cầm suốt 15 năm tại "địa ngục trần gian" Côn Đảo. Dù bị xiềng xích, tra tấn dã man, Bác vẫn giữ vững khí tiết, thành lập chi bộ Đảng trong tù để lãnh đạo anh em đấu tranh. Sau khi nước nhà độc lập, Bác Tôn giữ chức Chủ tịch nước, nhưng Bác vẫn sống vô cùng giản dị, khiêm tốn, gần gũi với nhân dân. Hình ảnh Bác Tôn tự mình sửa xe đạp hay mặc bộ quần áo bà ba giản dị đã trở thành biểu tượng của đạo đức cách mạng sáng ngời. Bác là tấm gương về sự tận tụy và hy sinh trọn đời cho hạnh phúc của nhân dân.
Trong những trang sử vẻ vang của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, hình ảnh anh Lý Tự Trọng luôn chói sáng với câu nói bất hủ: "Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng".
Anh Lý Tự Trọng tham gia cách mạng từ khi còn rất nhỏ và được Bác Hồ trực tiếp dìu dắt. Anh rất thông minh, gan dạ, thường xuyên vượt qua sự bao vây của kẻ thù để chuyển tài liệu quan trọng. Trong một buổi mít tinh tại Sài Gòn, để bảo vệ đồng chí của mình, anh đã dũng cảm bắn chết tên thanh tra cảnh sát Pháp và bị bắt. Tại tòa án, dù mới 17 tuổi nhưng anh vẫn hiên ngang, dõng dạc khẳng định lý tưởng của mình khiến quân giặc phải khiếp sợ. Trước lúc hy sinh, anh vẫn hát vang bài "Quốc tế ca". Sự kiên trung của anh Lý Tự Trọng đã trở thành ngọn lửa rực cháy, thôi thúc lớp lớp thanh niên Việt Nam đứng lên chiến đấu vì độc lập dân tộc.
Câu chuyện về Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi – vị "Lưỡng quốc Trạng nguyên" – luôn khiến em khâm phục bởi ý chí vượt khó và tài năng xuất chúng.
Mạc Đĩnh Chi quê ở Hải Dương, nhà nghèo lại có ngoại hình xấu xí nên thường bị người đời coi thường. Tuy nhiên, ông lại vô cùng ham học. Nhà không có đèn, ông đốt củi, bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng để lấy ánh sáng đọc sách. Nhờ sự nỗ lực phi thường, ông đã đỗ Trạng nguyên đời nhà Trần. Không chỉ tài giỏi ở trong nước, khi đi sứ phương Bắc, ông còn dùng trí tuệ uyên bác của mình để giải những câu đố hóc búa, làm bài thơ "Hoa sen trong giếng ngọc" nổi tiếng khiến vua phương Bắc vô cùng nể phục và phong ông là Trạng nguyên của cả nước họ. Câu chuyện của ông dạy em rằng: giá trị của một con người không nằm ở vẻ bề ngoài mà ở trí tuệ và đạo đức bên trong.
Nữ chiến sĩ cách mạng Nguyễn Thị Minh Khai là một trong những tấm gương phụ nữ "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang" mà em kính trọng nhất.
Bà tham gia cách mạng từ sớm và là người lãnh đạo chủ chốt của Đảng ta tại Sài Gòn. Dưới sự vây quét gắt gao của giặc Pháp, bà vẫn kiên cường bám trụ để chỉ đạo phong trào đấu tranh của nhân dân. Khi bị bắt, dù chịu đủ mọi đòn tra tấn tàn khốc, bà vẫn giữ vững khí tiết cách mạng, không một lời khai báo. Trước lúc hy sinh tại ngã ba Giồng, bà đã viết dòng chữ bằng máu trên tường xà phòng để cổ vũ tinh thần đồng chí. Hình ảnh bà Minh Khai dũng cảm đứng trước pháp trường, hô vang khẩu hiệu cách mạng đã trở thành biểu tượng bất diệt của người phụ nữ Việt Nam kiên cường, sẵn sàng hy sinh tình riêng vì nghĩa lớn của dân tộc.
Học về lịch sử đời nhà Lý, em rất ngưỡng mộ sự chính trực và công tâm của thái úy Tô Hiến Thành – một vị quan "thanh liêm đời đời kính trọng".
Ông là người có công lớn trong việc giữ gìn biên cương và chăm lo đời sống nhân dân. Khi vua Lý Anh Tông qua đời, ông được giao trọng trách phò tá vua nhỏ mới 3 tuổi. Lúc ấy, có người mang vàng bạc đến hối lộ nhằm thay đổi ngôi vua, nhưng ông nhất quyết từ chối, giữ đúng lời hứa với tiên đế. Khi ông lâm bệnh nặng, có người ngày đêm hầu hạ nhưng tài năng kém, ông không tiến cử; ngược lại, ông lại tiến cử một vị quan chính trực khác dù người đó thường xuyên bất đồng ý kiến với mình. Sự công tâm, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết của Tô Hiến Thành là bài học quý giá về sự trung thực mà em luôn ghi nhớ.
"Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây" – câu nói đanh thép này của anh hùng Nguyễn Trung Trực luôn làm em xúc động tự hào.
Nguyễn Trung Trực vốn là một ngư dân nghèo tại Long An, nhưng vì lòng yêu nước, ông đã đứng lên tập hợp nghĩa quân đánh Pháp. Chiến công lừng lẫy nhất của ông là chỉ huy trận đánh đốt cháy tàu Hy Vọng (L'Espérance) của quân Pháp trên sông Nhật Tảo. Tiếng vang của trận đánh làm quân giặc vô cùng hoảng sợ. Khi bị giặc bắt, chúng tìm mọi cách dụ dỗ, mua chuộc nhưng ông vẫn khảng khái từ chối và chấp nhận hy sinh để giữ trọn lòng trung thành với Tổ quốc. Hình ảnh vị thủ lĩnh nghĩa quân hiên ngang trên pháp trường đã trở thành ngọn đuốc rực cháy, cổ vũ tinh thần yêu nước cho nhân dân miền Nam suốt những năm tháng kháng chiến.
Để bài văn kể về nhân vật lịch sử không chỉ dừng lại ở việc thuật lại sự kiện mà còn chạm đến cảm xúc và thuyết phục được những giám khảo khó tính nhất, các em học sinh cần nắm vững những "bí kíp" riêng biệt trong cách hành văn. Một bài viết đạt điểm cao là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiến thức lịch sử chính xác, sự sáng tạo trong cách dùng từ và khả năng lồng ghép cảm xúc cá nhân một cách tự nhiên.
Dưới đây là những lưu ý quan trọng giúp bài làm của các em nổi bật và đạt điểm số tối đa:
Xem thêm:
Mỗi nhân vật lịch sử đi qua trang văn đều để lại những bài học sâu sắc về lòng dũng cảm và tinh thần trách nhiệm đối với quê hương, đất nước. Việc hiểu và kể lại những câu chuyện hào hùng ấy chính là cách để thế hệ trẻ chúng em thể hiện lòng biết ơn chân thành đối với những người đi trước. Hy vọng với dàn ý và các bài văn mẫu kể về nhân vật lịch sử trên sẽ giúp các bạn có thêm những ý tưởng sáng tạo, từ đó hoàn thành bài viết văn của mình một cách xuất sắc và đạt điểm số cao nhất!
Bài viết có hữu ích với bạn không?
Có
Không
Cám ơn bạn đã phản hồi!