Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính đã thuỳ mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp. Trong làng có chàng Trương Sinh, mến vì dung hạnh, xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Song Trương Sinh có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức. Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hoà. Cuộc sum vầy chưa được bao lâu thì xảy ra việc triều đình bắt lính đi đánh giặc Chiêm. Trương tuy con nhà hào phú nhưng không có học, nên phải ghi trong sổ lính đi vào loại đầu. Buổi ra đi mẹ chàng có dặn rằng:- Nay con phải tạm ra tòng quân, xa lìa dưới gối. Tuy hội công danh từ xưa ít gặp, nhưng trong chỗ binh cách phải biết giữ mình làm trọng, gặp khó nên lui, lường sức mà tiến, đừng nên tham miếng mồi thơm để lỡ mắc vào cạm bẫy. Quan cao tước lớn nhường để người ta. Có như thế, mẹ ở nhà mới khỏi lo lắng vì con được.
Chàng quỳ xuống đất vâng lời dạy. Nàng rót chén rượu đầy tiễn chồng mà rằng:
- Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rối. Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến cho tiện thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng. Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng.
Nàng nói đến đây, mọi người đều ứa hai hàng lệ. Rồi đó, tiệc tiễn vừa tàn, áo chàng đành rứt. Nước mắt cảnh vật vẫn còn như cũ, mà lòng người đã nhuộm mối tình, muôn dặm quan san!
Bấy giờ, nàng đương có mang, sau khi xa chồng vừa đầy tuần thì sinh ra một đưa con trai, đặt tên là Đản. Ngày qua tháng lại, thoắt đã nửa năm, mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được. Bà mẹ cũng vì nhớ con mà dần sinh ốm. Nàng hết sức thuốc than lễ bế thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn. Song bệnh tình mỗi ngày một trầm trọng, bà biết không sống được, bèn trối lại với nàng rằng:
- Ngắn dài có số, tươi héo bởi trời. Mẹ không phải không muốn đợi chồng con về, mà không gắng ăn miếng cơm miếng cháo đặng cùng vui sum họp. Song, làm tham vô cùng mà vận trời khó tránh. Nước hết chuông rền, số cùng khí kiệt. Một tấm thân tàn, nguy trong sớm tối, việc sống chết không khỏi phiền đến con. Chồng con nơi xa xôi không biết sống chết thế nào không thể về đền ơn được. Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ.
Bà cụ nói xong thì mất. Nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ của mình.
Qua năm sau, giặc ngoan cố chịu trói, việc quân kết thúc. Trương Sinh về tới nhà, được biết mẹ đã qua đời, con vừa học nói. Chàng hỏi mồ mẹ, rồi bế đứa con nhỏ đi thăm; đứa trẻ không chịu, ra đến đồng, nó quấy khóc, Sinh dỗ dành:
- Nín đi con, đừng khóc. Cha về, bà đã mất, lòng cha buồn khổ lắm rồi.
Đứa con ngây thơ nói:
- Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư! Ông lại biết nói chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít.
Chàng ngạc nhiên gạn hỏi. Đứa con nhỏ nói:
- Trước đây, thường có một người đàn ông, đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả.
Tính chàng hay ghen, nghe con nói vậy, đinh ninh là vợ hư, mối nghi ngờ ngày càng sâu, không có gì gỡ ra được.
Về đến nhà, chàng la um lên cho hả giận. Vợ chàng khóc mà rằng:
- Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thoả tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói. Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp.
Chàng vẫn không tin. Nhưng nàng hỏi chuyện kia do ai nói ra, thì lại giấu không kể lời con nói; chỉ lấy chuyện bóng gió này nọ mà mắng nhiếc nàng, và đánh đuổi đi. Họ hàng làng xóm bênh vực và biện bạch cho nàng, cũng chẳng ăn thua gì cả. Nàng bất đắc dĩ nói:
- Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng vì có cái thú vui nghi gia nghi thất. Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió; khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồm xa, đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa.
Đoạn rồi nàng tắm gội sạch, ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than rằng:
- Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ.
Nói xong nàng gieo mình xuống sông mà chết. Chàng tuy giận là nàng thất tiết, nhưng thấy nàng tự tận cũng động lòng thương, tìm vớt thây nàng, nhưng chẳng thấy tăm hơi đâu cả. Một đêm phòng không vắng vẻ, chàng ngồi dưới ngọn đèn khuya, chợt đứa con nói rằng:
- Cha Đản lại đến kia kìa!
Chàng hỏi đâu. Nó chỉ bóng chàng ở trên vách:
- Đây này!
Thì ra, ngày thường, ở một mình, nàng hay đùa con, trỏ bóng mình mà bảo là cha Đản. Bấy giờ chàng mới tỉnh ngộ, thấu nỗi oan của vợ, nhưng việc trót đã qua rồi!
Cùng làng với nàng, có người tên là Phan Lang, khi trước làm đầu mục ở bến đò Hoàng Giang, một đêm chiêm bao thấy người con gái áo xanh đến kêu xin tha mạng. Sáng dậy, Phan Lang thấy có người phường chài đem vào biếu một con rùa mai xanh, sực nghĩ đến chuyện mộng, bèn đem thả con rùa ấy. Cuối đời Khai Đại nhà Hồ, quân Minh mượn tiếng đưa Trầm Thiêm Bình về nước, phạm vào cửa ải Chi Lăng, nhân dân trong nước, nhiều người sợ hãi phải chạy trốn ra ngoài bể, không may đắm thuyền đều chết đuối cả. Thây Phan Lang dạt vào một cái động rùa ở hải đảo, có người đàn bà là Linh Phi trông thấy nói rằng:
- Đây là vị ân nhân cứu sống ta thuở xưa.
Linh Phi bèn lấy khăn dấu mà lau, lấy thuốc thần mà đổ, một chốc Phan Lang liền tỉnh lại. Phan trông thấy cung gấm đền dao thật nguy nga lộng lẫy, mà chưa biết mình đã lọt vào cung nước của rùa thần. Linh Phi bấy giờ mình mặc áo gấm dát ngọc, chân đi giày có vân nạm vàng, cười bảo Phan Lang rằng:
- Tôi là Linh Phi trong động rùa, vợ vua biển Nam Hải, nhớ hồi còn nhỏ đi chơi ở bến sông bị người phường chài bắt được, ngẫu nhiên báo mộng, quả được nhờ ơn. Gặp gỡ ngày nay, há chẳng phải lòng trời xui khiến cho tôi có dịp đền ơn trả nghĩa?
Phi bèn đặt yến ở gác Triêu Dương để thết đãi Phan Lang. Dự tiệc hôm ấy có vô số những mĩ nhân, quần áo thướt tha, mái tóc búi xễ. Trong số đó, có một người mặt chỉ hơi điểm qua một chút son phấn trông rất giống Vũ Nương. Phan có ý nhìn trộm, nhưng không dám nhận. Tiệc xong, người đàn bà ấy nói với Phan Lang rằng:
- Tôi với ông vốn người cùng làng, cách mặt chưa bao, đã quên nhau rồi ư?
Bấy giờ Phan mới nhận đích người ấy là Vũ Nương và gạn hỏi duyên cớ. Nàng nói:
- Tôi ngày trước không may bị người vu oan, phải gieo mình xuống sông tự tử. Các nàng tiên trong cung nước thương tôi vô tội, rẽ một đường nước cho tôi thoát chết, nếu không thì đã vùi vào bụng cá, còn đâu mà gặp ông.
Phan nói:
- Nương Tử nghĩa khác Tào Nga, hờn không Tinh Vệ mà phải ôm mối hận gieo mình xuống nước. Nay thóc cũ không còn, thóc mới vừa gặt, há lại không tưởng nhớ đến quê hương ư?
Vũ Nương nói:
- Tôi bị chồng ruồng rẫy, thà già ở chốn làng mây cung nước, chứ còn mặt mũi nào về nhìn thấy người ta nữa!
Phan nói:
- Nhà cửa tiên nhân của nương tử, cây cối thành rừng, phần mộ tiên nhân của nương tử, cỏ gai rợp mắt. Nương tử dù không nghĩ đến, nhưng tiên nhân còn mong đợi nương tử thì sao?
Nghe đến đây, Vũ Nương ứa nước mắt khóc, rồi quả quyết đổi giọng mà rằng:
- Có lẽ không thể gửi hình ẩn bóng ở đây được mãi, để mang tiếng xấu xa. Phải chăng, ngựa Hồ gầm gió bắc, chim Việt đậu cành nam. Cản vì nỗi ấy, tôi tất phải tìm về có ngày.
Hôm sau, Linh Phi lấy một cái túi bằng lụa tía, đựng mười hạt minh châu, sai sứ giả Xích Hỗn đưa Phan ra khỏi nước. Vũ Nương nhân đó cũng đưa gửi một chiếc hoa vàng mà dặn:
- Nhờ nói hộ với chàng Trương, nếu còn nhớ chút tình xưa nghĩa cũ, xin lập một đàn giải oan ở bến sông, đốt cây đèn thần chiếu xuống nước, tôi sẽ trở về.
Lúc đến nhà, Phan đem chuyện kể lại với họ Trương. Ban đầu Trương không tin. Nhưng khi nhận được chiếc hoa vàng, chàng mới sợ hãi mà nói:
- Đây quả là vật dùng mà vợ tôi mang lúc ra đi.
Chàng bèn theo lời, lập một đàn tràng ba ngày đêm ở bến Hoàng Giang. Rồi quả thấy Vũ Nương ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện.
Chàng vội gọi, nàng vẫn ở giữa dòng mà nói vọng vào:
- Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ. Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa.
Rồi trong chốc lát, bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất.
Nội dung Chuyện người con gái Nam Xương
I. Mở bài: Sự hối hận muộn màng
Dẫn dắt: Trương Sinh ngồi một mình trong đêm vắng, nhìn ngọn đèn khuya, nhớ về người vợ quá cố.
Giới thiệu bản thân và bối cảnh: Tôi là Trương Sinh, một kẻ vì đa nghi, nông nổi mà đã tự tay phá nát hạnh phúc gia đình, khiến người vợ hiền thục phải gieo mình xuống dòng Hoàng Giang.
Ví dụ: "Đêm nay, khi bé Đản đã ngủ say, tôi ngồi bên ngọn đèn dầu hắt hiu trên vách. Cái bóng của tôi in trên tường lại gợi nhắc về nỗi đau xé lòng của ba năm về trước – nỗi oan khiên của Vũ Nương mà suốt đời này tôi không thể bù đắp được."
II. Thân bài: Diễn biến câu chuyện qua góc nhìn của Trương Sinh
1. Hạnh phúc ngắn chẳng tày gang và cuộc chia ly
Kể về việc cưới Vũ Nương: Mến vì dung hạnh, xin mẹ trăm lạng vàng để rước nàng về.
Bản tính bản thân: Có tính đa nghi, luôn phòng ngừa vợ quá mức.
Cảnh chia tay đi lính: Sự xúc động trước lời dặn dò của vợ (không cầu ấn phong hầu, chỉ cầu hai chữ bình yên).
Ví dụ: "Ngày tôi lên đường, nhìn nàng rót chén rượu tiễn biệt, nước mắt ngắn dài mà lòng tôi thắt lại. Nàng nói: 'Chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi'. Lúc đó, tôi đâu ngờ đó là những lời chân thành nhất của một người vợ tào khang."
2. Trở về và sự nghi ngờ nảy sinh
Trở về sau chiến tranh: Mẹ mất, con vừa học nói.
Nỗi đau mất mẹ: Bế con đi thăm mộ, lòng buồn trĩu nặng.
Lời nói của bé Đản: Khi tôi dỗ dành, con bé ngây thơ nói về "người cha" đêm đêm vẫn đến.
Ví dụ: "Nghe con nói: 'Ông lại biết nói chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít', đầu óc tôi như có luồng điện giật. Cơn ghen tuông bốc lên ngùn ngụt khi con kể về một người đàn ông đêm nào cũng đến, mẹ đi cũng đi, mẹ ngồi cũng ngồi..."
3. Cơn giận mất khôn và bi kịch gia đình
Về nhà mắng nhiếc, đánh đuổi vợ: Mặc cho vợ khóc lóc minh nỗi oan, mặc cho họ hàng can ngăn.
Thái độ của tôi lúc đó: Giấu kín lời con nói, chỉ lấy chuyện bóng gió mà mắng chửi, khăng khăng cho rằng vợ hư hỏng.
Vũ Nương tuyệt vọng: Nàng tắm gội, ra bến sông thề nguyền rồi gieo mình tự tận.
Ví dụ: "Lúc đó tôi như kẻ mù lòa vì giận dữ. Dù nàng có khóc lóc nói rằng 'Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết', tôi cũng chẳng thèm lọt tai. Tôi đã nhẫn tâm đuổi nàng ra khỏi nhà, để rồi chính tay tôi đã đẩy nàng đến dòng nước lạnh lẽo của bến Hoàng Giang."
4. Sự thật phơi bày (Nút thắt được gỡ bỏ)
Một đêm ngồi cùng con dưới đèn: Bé Đản trỏ vào cái bóng trên vách và gọi đó là cha.
Sự tỉnh ngộ: Bàng hoàng nhận ra "người cha" mà con nói bấy lâu nay chính là cái bóng của vợ mình.
Ví dụ: "Nhìn ngón tay nhỏ bé của Đản chỉ vào cái bóng của tôi trên vách mà reo lên: 'Cha Đản lại đến kia kìa!', tôi như chết lặng. Hóa ra bấy lâu nay, vì thương con thiếu vắng hơi ấm người cha, nàng đã trỏ bóng mình mà bảo là tôi. Nỗi oan khiên này... trời đất ơi, tôi biết phải làm sao?"
5. Cuộc gặp gỡ kỳ ảo và lời tạ tội cuối cùng
Nghe chuyện từ Phan Lang: Người cùng làng gặp Vũ Nương dưới thủy cung.
Lập đàn giải oan: Nghe lời vợ dặn, tôi lập đàn bên bờ sông.
Sự xuất hiện của Vũ Nương: Nàng hiện về rực rỡ nhưng xa xăm, nói lời vĩnh biệt.
Ví dụ: "Giữa làn sương khói mờ ảo trên sông, tôi thấy nàng ngồi trên kiệu hoa, võng lọng rực rỡ. Tôi gào khóc gọi tên nàng, nhưng nàng chỉ đứng giữa dòng mà nói: 'Thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa'. Bóng nàng mờ dần rồi tan mất, để lại mình tôi với dòng sông cuồn cuộn."
III. Kết bài: Bài học và nỗi lòng người ở lại
Tình cảnh hiện tại: Gà trống nuôi con, sống trong sự dằn vặt khôn nguôi.
Lời nhắn nhủ: Mong những người làm chồng đừng vì sự đa nghi, nông nổi mà đánh mất người yêu thương nhất.
Ví dụ: "Giờ đây, mỗi khi nhìn bé Đản lớn khôn, lòng tôi lại thắt lại vì tội lỗi. Tôi đã có được sự tha thứ của nàng nơi chín suối, nhưng chẳng bao giờ có thể tự tha thứ cho bản thân mình. Mong thiên hạ nhìn vào vết xe đổ của tôi mà trân trọng hạnh phúc gia đình khi còn có thể."
Một số lưu ý khi viết bài:
Xưng hô: Dùng "tôi" hoặc "ta".
Ngôn ngữ: Kết hợp giữa ngôn ngữ kể chuyện hiện đại và một số từ ngữ Hán Việt (tòng quân, nghi gia nghi thất, tiết hạnh...) để giữ không khí cổ xưa của tác phẩm.
Tâm lý: Phải nhấn mạnh sự tương phản giữa sự hung hăng lúc đầu và sự đau đớn lúc sau của Trương Sinh.
Đóng vai Trương Sinh kể lại Chuyện người con gái Nam Xương
Đêm đã vào sâu, tiếng gió rít qua khe cửa ngôi nhà cổ ở Nam Xương nghe như tiếng oán than của một linh hồn chưa được siêu thoát. Tôi ngồi đây, Trương Sinh – kẻ đã dành cả cuộc đời mình để trả giá cho một vài giây phút nông nổi, đa nghi. Ngọn đèn dầu trước mặt tôi đang cháy leo lét, tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, yếu ớt, in lên vách tường một cái bóng đen sẫm, to lớn và cô độc. Mỗi khi nhìn cái bóng ấy, lồng ngực tôi lại thắt lại, đau đớn như có hàng nghìn mũi kim đâm vào da thịt. Đã bao nhiêu năm rồi, "cái bóng" ấy vẫn là bản án tử hình cho hạnh phúc của tôi, là kẻ thù vô hình nhưng tàn độc nhất mà tôi từng đối mặt.
Nhìn lại quá khứ, tôi tự thấy mình là một gã đàn ông đầy rẫy những mâu thuẫn. Tôi sinh ra trong một gia đình hào phú, của cải dư thừa, nhưng lại là kẻ "không có học". Chính cái sự "không có học" ấy đã tạo nên một mặc cảm tự ti sâu sắc trong lòng tôi, ngay cả khi tôi cưới được Vũ Nương – một người con gái thùy mị, nết na và tài sắc vẹn toàn. Tôi yêu nàng, nhưng tình yêu của một kẻ ít học thường đi kèm với sự chiếm hữu cực đoan. Tôi "phòng ngừa quá sức" không phải vì nàng không đáng tin, mà vì tôi luôn sợ mình không xứng đáng với nàng. Tôi sợ cái vẻ đẹp thanh tao ấy sẽ thuộc về một ai đó biết chữ nghĩa, biết thi phú hơn tôi.
Rồi chiến tranh ập đến. Triều đình bắt lính đi đánh giặc Chiêm. Tôi, một kẻ chưa từng cầm gươm đao, phải rời xa người vợ đang mang thai và người mẹ già để dấn thân vào chốn binh cách. Ba năm tòng quân là ba năm tôi sống trong khói lửa, giữa tiếng thét gào của đồng đội và sự tàn khốc của cái chết. Chiến tranh không chỉ mài mòn thân thể mà còn làm chai sạn trái tim con người. Tôi trở về với một tâm thế cảnh giác, nhạy cảm và đầy hoài nghi – một hệ quả tất yếu của những kẻ đã quen với việc sinh tồn giữa những cạm bẫy nơi biên thùy.
Ngày tôi về đến đầu làng, tin dữ ập đến: mẹ tôi đã khuất núi. Nỗi đau mất mẹ chồng chéo lên nỗi khát khao gặp vợ con. Tôi bế bé Đản ra thăm mộ mẹ, hy vọng tiếng gọi "Cha" từ đứa con sẽ là liều thuốc chữa lành mọi vết thương. Nhưng hỡi ôi, đứa trẻ ấy lại đẩy tôi ra bằng một câu nói ngây thơ đến nghiệt ngã: "Ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít". Giây phút ấy, máu trong người tôi như sôi lên. Những lời kể sau đó của Đản về một "người đàn ông đêm nào cũng đến" đã kích hoạt toàn bộ sự đa nghi độc đoán trong tôi. Tôi không còn là người chồng nhớ vợ, tôi trở thành một gã lính đang đối mặt với sự phản bội ngay tại pháo đài cuối cùng của mình: gia đình.
Tôi về nhà, không một lời thăm hỏi, không một phút lắng nghe. Tôi dùng quyền lực của người chồng, người chủ gia đình để định tội Vũ Nương. Nàng khóc, nàng thề nguyền bằng cả tính mạng, nàng nói về ba năm giữ gìn tiết hạnh "ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót". Nhưng trong tai tôi lúc đó chỉ có tiếng vang của Đản: "đêm nào cũng đến". Sự mù quáng của tôi lớn đến mức tôi không cho nàng một cơ hội để giải thích, cũng không nói cho nàng biết những lời của con trẻ. Tôi muốn nàng phải nhục nhã vì tôi cho rằng mình đã bị nhục nhã. Khi nàng gieo mình xuống dòng Hoàng Giang, tôi đứng trên bờ với một sự lạnh lùng tàn nhẫn của kẻ tin rằng mình vừa gột rửa được một vết nhơ.
Sự thật chỉ phơi bày trong một đêm mưa gió, khi tôi ngồi bên đèn và bé Đản chỉ vào cái bóng của tôi mà reo lên: "Cha Đản lại đến kìa!". Lúc đó, tôi như bị một tia sét đánh trúng đỉnh đầu. Hóa ra, vì thương con, vì nỗi nhớ chồng mòn mỏi, Vũ Nương đã trỏ cái bóng của mình mà bảo là cha Đản. Nàng đã sống với "cái bóng" của tôi suốt ba năm, còn tôi, tôi lại giết chết nàng vì "cái bóng" của một sự thật giả dối.
Cuộc đời tôi từ đó là một chuỗi những ngày dài trong địa ngục của sự hối hận. Tôi đã thấy nàng hiện về giữa dòng sông trong đàn giải oan, lộng lẫy và rực rỡ hơn bao giờ hết. Nhưng nàng không trở về. Nàng đứng giữa dòng nước mênh mông mà nói lời vĩnh biệt. Khoảnh khắc bóng nàng tan biến vào sương khói, tôi hiểu rằng mình đã vĩnh viễn mất đi người phụ nữ tuyệt vời nhất trần gian. Tôi sống nốt phần đời còn lại để nuôi dạy Đản, để nhìn con lớn lên và thầm cầu xin sự tha thứ từ mẹ nó. Bài học về lòng tin ấy, tôi đã phải trả bằng một cái giá quá đắt: cả mạng sống của người tôi yêu và sự thanh thản của linh hồn mình. Cái bóng trên vách đêm nay vẫn còn đó, nhưng người trỏ bóng ngày xưa nay đã mịt mờ tăm cá...
Tôi là Trương Sinh, một kẻ đã từng có tất cả: gia sản hào phú, mẹ hiền, vợ đẹp, con ngoan, nhưng cuối cùng lại trắng tay vì lòng đa nghi như cỏ dại sau mưa. Câu chuyện về người vợ tên Vũ Thị Thiết của tôi đã trở thành một giai thoại đau buồn khắp vùng Nam Xương, nhưng ít ai biết được nỗi đau đớn vò xé tâm can của kẻ ở lại – kẻ đã tự tay đẩy hạnh phúc xuống dòng nước sâu.
Nhiều năm đã trôi qua kể từ ngày Vũ Nương mất, tôi sống lầm lũi như một bóng ma trong chính ngôi nhà của mình. Cho đến một ngày, Phan Lang – người cùng làng tôi, một đầu mục cũ ở bến đò Hoàng Giang – trở về từ một chuyến đi kỳ bí mà người đời gọi là "về từ cõi chết". Phan Lang kể lại rằng anh ta đã gặp Vũ Nương dưới thủy cung của Linh Phi. Ban đầu, tôi không tin. Tôi cho rằng anh ta chỉ đang thương hại tôi mà dựng lên một câu chuyện hoang đường để an ủi một kẻ tội đồ. Nhưng khi Phan Lang đưa ra chiếc hoa vàng – vật kỷ niệm mà Vũ Nương mang theo ngày rời nhà – tôi đã quỵ ngã. Chiếc hoa vàng lấp lánh dưới ánh mặt trời, mang theo hơi ấm và mùi hương quen thuộc của nàng. Đó là lúc tôi biết, vợ tôi không chỉ là một người phụ nữ trần gian, mà linh hồn nàng đã hóa thân thành tiên cảnh nhờ tấm lòng trinh bạch.
Vũ Nương nhắn tôi lập một đàn giải oan bên bến sông. Lời nhắn ấy không mang theo sự thù hận, mà mang theo một lòng từ bi bao la. Nàng muốn tôi gột rửa nỗi oan cho nàng trước toàn dân thiên hạ, để nàng có thể thanh thản nơi cung nước. Tôi đã dốc hết tâm lực, lập một đàn tràng ba ngày đêm bên bến Hoàng Giang. Tôi đã thắp lên hàng nghìn ngọn đèn thần chiếu xuống dòng nước, mỗi ngọn đèn là một lời tạ tội, một giọt nước mắt hối hận của tôi gửi đến nàng.
Đêm cuối cùng của đàn giải oan, dòng sông Hoàng Giang bỗng trở nên lung linh kỳ ảo. Giữa làn khói hương nghi ngút, một khung cảnh lộng lẫy hiện ra mà cả đời tôi chưa từng dám mơ tới. Vũ Nương ngồi trên một chiếc kiệu hoa rực rỡ, theo sau là năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng lộng lẫy đầy sông. Nàng hiện ra giữa dòng, đẹp thoát tục, rực rỡ như một nữ thần. Tôi gào khóc gọi tên nàng, tôi muốn nhảy xuống dòng nước để được ôm lấy đôi bàn chân nàng, được quỳ xuống mà xin nàng một lời tha thứ trực tiếp.
Nhưng khoảng cách giữa tôi và nàng giờ đây không chỉ là khoảng cách giữa hai bờ sông, mà là khoảng cách giữa cõi phàm trần đầy lỗi lầm và cõi tiên cao khiết. Nàng nói vọng vào, tiếng nói thanh thoát như tiếng chuông vàng: "Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ. Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa". Hình bóng nàng loang loáng, mờ nhạt dần rồi tan biến hẳn vào màn sương mù của dòng sông.
Giây phút ấy, tôi chợt thức tỉnh. Tôi nhận ra rằng sự trừng phạt lớn nhất dành cho tôi không phải là cái chết, mà là sự tồn tại trong nỗi nhớ nhung vĩnh viễn về một thứ mà tôi không bao giờ có thể chạm vào được nữa. Vũ Nương đã tha thứ cho tôi bằng việc hiện về, nhưng nàng chọn ở lại với Linh Phi vì nàng biết rằng trái tim đa nghi của nhân gian không có chỗ cho những tâm hồn thuần khiết như nàng.
Từ đó về sau, tôi dành phần đời còn lại để làm việc thiện, nuôi dạy bé Đản nên người. Tôi thường dẫn Đản ra bến sông, kể cho con nghe về người mẹ của nó – không phải một người phụ nữ bị chồng đuổi mà là một vị tiên đã về trời. Tôi dạy con rằng: "Lòng tin là gốc rễ của hạnh phúc, sự nghi ngờ là ngọn lửa thiêu rụi mọi lâu đài". Chiếc hoa vàng ngày nào tôi vẫn giữ gìn cẩn thận như một báu vật thiêng liêng nhất. Nó nhắc nhở tôi rằng, giữa thế gian đầy rẫy những sự giả dối, vẫn có những tấm lòng trinh bạch như ngọc Mị Nương, như cỏ Ngu mĩ. Dòng sông Hoàng Giang vẫn chảy, mang theo nỗi oan đã được giải và tình yêu muộn màng của tôi, một kẻ đã học được cách yêu thương khi tất cả chỉ còn là ảo ảnh.
Đã bao nhiêu năm trôi qua kể từ ngày bến sông Hoàng Giang dậy sóng, tôi vẫn ngồi đây, bên ngọn đèn khuya hắt hiu này. Mỗi khi ánh lửa bập bùng, chiếc bóng của tôi lại in trên vách, nhảy múa như một hồn ma đang cười nhạo sự ngu muội của chính mình. Tôi là Trương Sinh – kẻ đã tự tay bóp nát hạnh phúc đời mình chỉ vì một chiếc bóng ảo ảnh.
Nhớ lại ngày trước, tôi vốn con nhà hào phú nhưng không có học hành gì nhiều. Đổi lại, trời cho tôi cưới được Vũ Thị Thiết, người con gái Nam Xương thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp. Ngày tôi xin mẹ trăm lạng vàng rước nàng về, tôi đã tự hứa sẽ trân trọng nàng suốt đời. Thế nhưng, bản tính đa nghi cố hữu trong máu đã khiến tôi luôn phòng ngừa vợ quá sức. Dù nàng luôn giữ gìn khuôn phép, chưa bao giờ để vợ chồng phải đến mức thất hòa, tôi vẫn không sao dứt bỏ được lòng ghen tuông ngấm ngầm.
Cuộc sum vầy ngắn ngủi thì giặc Chiêm xâm lược, tôi phải ra tòng quân. Trong ba năm sương gió nơi ải xa, tôi chỉ biết nhìn trăng soi thành cũ mà nhớ về người vợ hiền nơi quê nhà. Tôi nhớ lời nàng dặn lúc chia ly: "Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu... chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên". Những lời ấy, tôi đã mang theo trong suốt những đêm ngủ sương nằm đất. Nhưng hỡi ôi, chiến tranh đã làm thay đổi con người ta, hay chính sự thiếu tin tưởng đã chuẩn bị sẵn cho một tấn bi kịch?
Ngày tôi trở về, mẹ đã khuất núi. Đứa con trai tên Đản chưa từng biết mặt cha giờ đã biết nói. Tôi bế con đi thăm mộ mẹ, lòng trĩu nặng buồn đau. Vậy mà, chính đứa con thơ dại ấy đã gieo vào lòng tôi một mồi lửa đốt cháy cả gia đình. Nó bảo: "Ông lại biết nói chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít... đêm nào cũng đến... mẹ đi cũng đi, mẹ ngồi cũng ngồi". Trong đầu óc mụ mị của tôi lúc đó, tôi chỉ kịp nghĩ: "Khốn nạn! Nàng ta đã phản bội mình". Cơn ghen tuông cuồng nộ bốc lên che lấp lý trí. Tôi đã quên mất công lao nàng thờ mẹ, nuôi con. Tôi đã quên mất bản tính hiền thục của nàng.
Tôi về nhà la lối om sòm cho hả giận. Mặc cho nàng khóc lóc, mặc cho nàng đem cả tiết hạnh ba năm ra để minh chứng, tôi vẫn không tin. Ngay cả khi họ hàng làng xóm bênh vực, tôi cũng gạt phăng đi. Sự độc đoán của một kẻ gia trưởng và thói đa nghi của một kẻ ít học đã biến tôi thành một con quỷ dữ. Tôi đã đuổi nàng đi trong sự nhục nhã. Để rồi, khi nàng gieo mình xuống sông tự tận, tôi vẫn còn hậm hực cho rằng nàng chết vì xấu hổ.
Sự thật chỉ phơi bày vào một đêm khuya, khi tôi ngồi bên đèn, đứa con lại chỉ vào cái bóng của tôi trên vách mà gọi cha. Giây phút ấy, trời đất như sụp đổ dưới chân tôi. Hóa ra, vì thương con, nàng đã trỏ cái bóng của mình mà bảo là cha Đản. Nỗi oan của nàng thấu tận trời xanh, còn tội ác của tôi thì không gì rửa sạch. Sau này, dù có lập đàn giải oan bên bến sông, dù thấy nàng hiện về rực rỡ giữa dòng nước, tôi cũng biết mình đã vĩnh viễn mất nàng. Nàng không thể trở về nhân gian được nữa, bởi nhân gian này đã có một kẻ như tôi làm nàng đau đớn. Cái bóng trên vách đêm nay vẫn còn đó, như một vết sẹo không bao giờ lành trong tâm hồn tôi.
Tôi viết những dòng này không phải để xin sự tha thứ, bởi tôi biết mình không xứng đáng. Tôi là Trương Sinh, kẻ đã vì sự ngu muội và thói gia trưởng mà đẩy người vợ hiền thục vào chỗ chết. Câu chuyện của tôi là một bài học đắt giá về niềm tin và sự trân trọng trong đạo nghĩa vợ chồng.
Vũ Nương của tôi, nàng là một người phụ nữ hoàn hảo. Trong suốt ba năm tôi đi chinh chiến, nàng một mình gánh vác việc nhà, chăm sóc mẹ già đau yếu. Khi mẹ tôi lâm chung, chính nàng đã lo liệu ma chay chu đáo như đối với cha mẹ đẻ. Lời trối trăng của mẹ tôi lúc cuối đời: "Xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ" là minh chứng hùng hồn nhất cho đức hạnh của nàng. Vậy mà khi trở về, tôi đã đối xử với nàng như thế nào?
Chỉ vì một lời nói ngây thơ của bé Đản, tôi đã lập tức kết tội vợ mình. Tôi không hỏi nàng cho rõ ngọn ngành, không cho nàng một cơ hội để giải thích. Sự đa nghi của tôi như một liều thuốc độc, nó ngấm vào máu và làm tê liệt mọi cảm xúc yêu thương. Tôi đã dùng những lời lẽ nặng nề nhất để sỉ nhục người phụ nữ đã vì tôi mà giữ gìn tiết hạnh, đã vì tôi mà mòn mỏi chờ đợi. "Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót" – lời thanh minh ấy của nàng xót xa biết bao, nhưng lúc đó trái tim tôi đã hóa đá.
Tôi đã ép nàng đến đường cùng. Khi nàng đứng trước bến Hoàng Giang, ngửa mặt lên trời mà thề rằng: "Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ", tôi vẫn đứng đó với sự lạnh lùng tàn nhẫn. Chỉ đến khi nàng đã tan mình vào dòng nước, tôi mới chợt thấy lòng mình hẫng hụt. Nhưng sự hối hận lúc đó vẫn còn quá ít so với sự ngạo mạn.
Mãi đến khi sự thật về "người cha trên vách" hiện ra qua lời của bé Đản, tôi mới bàng hoàng nhận ra mình đã mù lòa đến mức nào. Một người phụ nữ yêu chồng thương con đến mức coi cái bóng của mình là chồng để an ủi con, vậy mà lại bị chính chồng mình bức tử. Tội ác của tôi không chỉ là giết vợ, mà còn là giết chết một tình yêu thiêng liêng.
Khi Phan Lang trở về và kể chuyện gặp Vũ Nương dưới thủy cung, lòng tôi nhen nhóm một hy vọng mỏng manh. Tôi lập đàn giải oan, cầu khẩn mong nàng trở về. Và nàng đã hiện ra thật, lộng lẫy giữa dòng sông với kiệu hoa, cờ tán. Nhưng khoảng cách giữa bờ và dòng sông lúc ấy chính là khoảng cách giữa cõi sống và cõi chết, giữa sự lầm lỗi và sự cao khiết. Nàng nói: "Thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa". Câu nói ấy như một bản án chung thân dành cho tôi. Tôi đứng lặng trên bờ, nhìn bóng nàng mờ dần rồi tan mất vào khói sóng, thấy mình cô độc và nhỏ bé biết bao trước biển trời mênh mông của tội lỗi.
Mỗi năm, cứ đến ngày giỗ của Vũ Nương, tôi lại ra bến sông Hoàng Giang, ngồi lặng yên nghe tiếng sóng vỗ vào bờ. Dòng sông này đã chứng kiến giây phút nàng ra đi, cũng là nơi cuối cùng tôi được thấy bóng hình nàng ẩn hiện trong khói sương huyền ảo. Tôi, Trương Sinh, một kẻ tòng quân trở về với đôi bàn tay trắng trắng về cả tình thương lẫn lý trí.
Chiến tranh kết thúc, tôi trở về với niềm vui đoàn tụ nhưng lại đón nhận tin tang tóc của mẹ già. Giữa lúc tâm thần bấn loạn, lời nói của bé Đản về "cha đêm nào cũng đến" như một mồi lửa ném vào đống rơm khô. Tôi đã hành động như một kẻ điên. Sự ít học của tôi đã khiến tôi không thể phân tích được sự vô lý trong lời nói của con trẻ. Tôi chỉ biết ghen, cái ghen của một kẻ tự coi mình là chủ sở hữu của người khác.
Tôi nhớ đêm cuối cùng nàng ở trong ngôi nhà này. Nàng đã tắm gội sạch sẽ – một nghi thức thanh tẩy trước khi về với thần sông. Nàng than rằng: "Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan... đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa". Lời nói ấy chan chứa sự tuyệt vọng của một kiếp người bị rẻ rúng. Vậy mà tôi vẫn không mảy may động lòng. Chỉ khi nhìn thấy nàng gieo mình xuống dòng nước xiết, tôi mới thấy một luồng điện lạnh ngắt chạy dọc sống lưng.
Cái bóng trên vách sau này đã giải mã tất cả. Nó như một cái tát vào sự kiêu ngạo của tôi. Tôi đã sống trong sự dằn vặt khôn nguôi cho đến khi gặp Phan Lang. Phan Lang kể về cung nước của Linh Phi, về việc Vũ Nương được các nàng tiên cứu sống. Nàng không chết, nhưng nàng cũng không còn thuộc về thế giới đầy rẫy sự bất công này nữa. Nàng gửi cho tôi chiếc hoa vàng và lời dặn lập đàn giải oan.
Buổi lễ giải oan năm ấy, khói hương nghi ngút cả một vùng sông. Tôi đã thấy nàng đứng trên chiếc kiệu hoa, rực rỡ và thoát tục. Xung quanh nàng là năm mươi chiếc xe cờ tán lộng lẫy, võng lọng rực rỡ đầy sông. Khung cảnh ấy vừa thực vừa ảo, như một giấc chiêm bao. Tôi gọi nàng, giọng khản đặc vì xúc động và hối hận. Nhưng nàng không bước lên bờ. Nàng đứng đó, giữa dòng sông mênh mông, nói những lời cuối cùng về lòng biết ơn với Linh Phi và tình nghĩa với tôi. Rồi nàng biến mất, nhanh như một làn sương sớm.
Dòng sông Hoàng Giang từ đó trong mắt tôi không còn là một dòng nước lạnh lẽo, mà là nơi lưu giữ linh hồn của người vợ hiền. Tôi nhận ra rằng, sự tha thứ của nàng dành cho tôi chính là việc nàng hiện về để giải tỏa nỗi nghi ngờ cho tôi, nhưng sự trừng phạt của nàng chính là việc nàng mãi mãi không quay lại. Tôi sống phần đời còn lại trong sự trống vắng, nuôi dạy bé Đản nên người, và luôn nhắc con rằng mẹ nó là một vị tiên đã về trời.
Nếu thời gian có thể quay trở lại, tôi nguyện đánh đổi tất cả gia sản hào phú của mình để được nghe lại tiếng cười của Vũ Nương trong gian bếp nhỏ. Tôi là Trương Sinh, một người cha đã vô tình dạy con mình cách nói dối và một người chồng đã vô tình giết chết vợ mình bằng sự ngờ vực.
Mọi chuyện bắt đầu từ ba năm đi lính. Khoảng cách địa lý đã tạo ra khoảng cách trong lòng tin. Khi trở về, tôi thấy mình xa lạ ngay trong chính ngôi nhà của mình. Đứa con trai bé bỏng của tôi, bé Đản, chính là cầu nối duy nhất, nhưng cũng là ngòi nổ cho bi kịch. Khi tôi dỗ dành con: "Nín đi con, đừng khóc. Cha về, bà đã mất, lòng cha buồn khổ lắm rồi", tôi chỉ mong nhận được một sự vỗ về từ máu mủ. Nhưng con tôi lại nói: "Ông lại biết nói chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít".
Lúc đó, tôi đã không đủ kiên nhẫn để hiểu rằng đối với một đứa trẻ, "cha" chỉ là một cái tên để gọi một cái bóng trên vách. Tôi đã để lòng ghen tuông che mờ sự thật. Tôi cho rằng Vũ Nương đã ngoại tình trong lúc tôi vắng nhà. Tôi đã mắng nhiếc nàng bằng những từ ngữ tồi tệ nhất, đuổi nàng đi mặc cho họ hàng và làng xóm can ngăn. Tôi đã cư xử như một bạo chúa trong chính gia đình mình.
Cái chết của Vũ Nương là một vết thương chí mạng vào lương tâm tôi. Khi tôi ngồi dưới ngọn đèn khuya, nhìn con trỏ bóng mình trên vách mà reo lên "Cha Đản lại đến kia kìa", tôi thấy mình như một kẻ sát nhân. Hóa ra, chính tình yêu của Vũ Nương dành cho tôi, nỗi nhớ nhung nàng dồn nén vào chiếc bóng để dỗ con, lại chính là thứ khiến tôi nghi ngờ nàng. Nàng đã dùng chiếc bóng để thay thế tôi khi tôi vắng mặt, còn tôi lại dùng chiếc bóng đó để xóa sổ nàng khỏi cuộc đời.
Câu chuyện của gia đình tôi nhanh chóng lan truyền. Phan Lang, người cùng làng, sau khi thoát chết từ động rùa của Linh Phi đã mang về cho tôi một chiếc hoa vàng – vật kỷ niệm của vợ tôi. Nhìn thấy chiếc hoa, tôi biết nàng vẫn còn sống ở một nơi nào đó dưới đáy nước sâu thẳm. Tôi lập đàn giải oan ở bến Hoàng Giang, không phải để nàng về làm vợ tôi một lần nữa, mà để tôi được quỳ xuống trước mặt nàng mà tạ tội.
Nàng hiện về giữa dòng sông, lộng lẫy và uy nghiêm. Sự xuất hiện của nàng là câu trả lời đanh thép nhất cho sự trong sạch của nàng. Nhưng nàng không về. Nàng chọn ở lại cung nước, chọn sự thanh thản dưới cõi tiên thay vì trở về với kẻ chồng đa nghi và thô bạo. Tôi đứng trên bờ, bế bé Đản trên tay, nhìn theo bóng nàng tan biến. Tôi nhận ra rằng, lời nói của trẻ thơ tuy ngây thơ nhưng nếu người lớn không dùng trái tim để lắng nghe thì sẽ dẫn đến thảm họa. Bài học đó, tôi đã phải trả bằng cả hạnh phúc đời mình.
Tôi ngồi đây, giữa những chồng sách cũ mà mình chưa bao giờ đọc hết, lòng đầy những hối tiếc về một thời nông nổi. Tôi là Trương Sinh, kẻ có tiền nhưng không có tâm thế của một bậc trượng phu, kẻ có vợ hiền nhưng không có con mắt tinh đời để nhận ra chân giá trị.
Gia đình tôi vốn hào phú, giàu có nhất vùng. Chính vì ỷ thế có tiền, tôi đã cưới Vũ Nương bằng trăm lạng vàng – một con số lớn thời bấy giờ. Có lẽ trong thâm tâm tôi lúc ấy, tôi coi nàng như một món đồ quý giá mà mình sở hữu hơn là một người bạn đời để sẻ chia. Sự chiếm hữu đó chính là khởi nguồn của tính đa nghi. Khi tôi phải đi lính, nỗi lo sợ bị mất đi "món đồ" quý giá đó luôn thường trực trong lòng tôi.
Năm tháng ở chiến trường, tôi chỉ học được cách cầm vũ khí chứ không học được cách thấu hiểu lòng người. Khi trở về, nghe lời con nói, cái tôi tự trọng hão huyền của một kẻ hào phú bị tổn thương. Tôi cảm thấy nhục nhã vì bị "cắm sừng" (theo suy diễn của tôi), và tôi đã chọn cách bạo lực nhất để lấy lại danh dự. Tôi đã đánh đuổi người vợ hiền mà không cho nàng bất cứ một lời giải thích nào. Tôi đã dùng cái uy của người chồng, người chủ gia đình để áp đặt ý chí của mình lên người khác.
Đến khi Vũ Nương chết, và sự thật về cái bóng được hé lộ, tôi mới nhận thấy sự thấp kém của mình. Tôi giàu có về tiền bạc nhưng lại nghèo nàn về lòng tin và sự bao dung. Vũ Nương, một người phụ nữ không có tiền bạc, lại giàu có hơn tôi gấp bội về tâm hồn. Nàng đã chăm sóc mẹ tôi bằng cả trái tim, nàng đã nuôi dạy con tôi bằng tất cả sự hy sinh. Ngay cả khi chết đi, nàng vẫn không một lời oán thán tôi khi gặp Phan Lang dưới thủy cung.
Phan Lang kể rằng khi ở dưới thủy cung, Vũ Nương đã khóc khi nghe nói về mộ phần cha mẹ và ngôi nhà cũ. Nàng vẫn là người phụ nữ trọng tình nghĩa. Nàng gửi hoa vàng cho tôi, dặn lập đàn giải oan, chính là trao cho tôi một cơ hội để gột rửa tội lỗi. Đêm lập đàn trên sông Hoàng Giang, nhìn thấy nàng ngồi trên kiệu hoa giữa dòng, tôi thấy mình thật nhỏ bé và đáng thương. Nàng đã trở thành tiên, thành thánh, còn tôi vẫn mãi là một kẻ phàm phu tục tử bị giam cầm trong nỗi hối hận.
Bóng nàng tan đi trong làn sương mù, để lại cho tôi một bài học mà có lẽ cả đời này tôi cũng không học hết. Rằng tiền bạc không mua được hạnh phúc, và lòng đa nghi chính là ngọn lửa thiêu rụi mọi lâu đài dù nó có được xây bằng vàng bạc đi chăng nữa. Tôi dành quãng đời còn lại để sống giản dị, dạy bé Đản học chữ, học làm người, để con không bao giờ lặp lại vết xe đổ của người cha khốn khổ này. Bến sông Hoàng Giang vẫn chảy, như nỗi đau trong lòng tôi chẳng bao giờ vơi cạn.
Tôi là Trương Sinh, một kẻ mà có lẽ lịch sử và người đời sẽ mãi mãi nhắc đến như một biểu tượng của sự ngu muội và tàn nhẫn. Đêm nay, khi tiếng sương rơi trên mái lá Nam Xương, tôi ngồi lại một mình để đối diện với bóng ma của quá khứ. Ba năm chinh chiến nơi biên thùy, giữa những lán trại đầy khói súng và những đêm dài thao thức vì tiếng trống trận, tôi đã nuôi dưỡng một tình yêu với Vũ Nương. Nhưng hỡi ôi, tôi không biết rằng chính cái tình yêu đầy sự chiếm hữu và thiếu hụt niềm tin ấy lại là mầm mống cho một thảm kịch không thể cứu vãn.
Ngày tôi ra đi, Vũ Nương đã tiễn tôi bằng chén rượu đầy và những lời nói chân thành đến xé lòng. Nàng không mong ấn phong hầu, không cầu áo gấm, chỉ mong tôi bình yên trở về. Ở nơi ải xa, mỗi khi nhìn trăng soi đầu súng, tôi lại hình dung về một mái ấm nơi có người vợ hiền thục đang ngày đêm thêu thùa, chờ đợi. Nhưng chiến tranh khắc nghiệt không chỉ bào mòn thân thể mà còn làm vẩn đục tâm hồn tôi. Tôi trở nên nhạy cảm, dễ nghi ngờ và mang theo một mặc cảm của kẻ ít học phải dấn thân vào chốn binh đao. Khi chiến sự kết thúc, tôi vội vã trở về, lòng khấp khởi niềm vui đoàn tụ. Nhưng chào đón tôi lại là cái tang của mẹ già và một đứa con chưa từng biết mặt cha.
Nỗi đau mất mẹ làm tôi quẫn bách. Khi bế bé Đản ra thăm mộ, tôi đã hy vọng đứa con sẽ là nhịp cầu nối lại tình cảm sau ba năm xa cách. Nhưng lời nói ngây thơ của nó như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt tôi: "Ông lại biết nói chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít". Cơn ghen tuông, vốn là bản tính cố hữu của tôi, nay được tiếp thêm nhiên liệu từ những lời kể của con trẻ về một "người đàn ông" đêm nào cũng đến. Tôi không đủ tỉnh táo để nhận ra sự vô lý. Tôi không đủ bao dung để hỏi vợ cho ra lẽ. Trong đầu tôi lúc đó chỉ hiện lên hình ảnh người vợ lăng loàn, phản bội lòng tin của người lính đang xông pha trận mạc.
Về nhà, tôi đã vứt bỏ mọi lề luật của tình nghĩa vợ chồng. Tôi mắng nhiếc, sỉ nhục nàng bằng những lời lẽ cay nghiệt nhất. Vũ Nương khóc lóc thanh minh, đem cả ba năm giữ gìn tiết hạnh ra thề bồi, nhưng đôi tai tôi đã đóng chặt. Sự đa nghi đã biến tôi thành một bạo chúa. Ngay cả khi nàng gieo mình xuống dòng Hoàng Giang, tôi vẫn cho rằng đó là hành động chuộc lỗi của một kẻ tội lỗi. Chỉ đến khi ngồi một mình trong bóng tối, nhìn đứa con chỉ vào cái bóng của tôi trên vách mà gọi cha, tôi mới bàng hoàng nhận ra sự thật. Cái bóng ấy chính là tôi, là người cha mà Vũ Nương đã tạo ra để dỗ dành con trẻ. Tôi đã giết chết người phụ nữ yêu tôi nhất trên đời vì một ảo ảnh. Nỗi đau ấy, dù có qua bao nhiêu năm tháng, vẫn cứ rỉ máu mỗi khi tôi nhìn thấy ánh đèn dầu hắt hiu trên vách đất.
Tôi là Trương Sinh. Cuộc đời tôi là một chuỗi những sai lầm nối tiếp, mà cái sai lầm lớn nhất chính là để sự độc đoán của một gã hào phú ít học đè bẹp sự thanh cao của một tâm hồn ngọc khiết. Đã có lúc tôi nghĩ rằng cái chết của Vũ Nương sẽ khép lại mọi chuyện, nhưng không, linh hồn nàng vẫn tồn tại như một lời nhắc nhở vĩnh cửu về tội ác của tôi. Sự xuất hiện của Phan Lang cùng chiếc hoa vàng chính là lúc tôi nhận ra mình đã đánh mất một kho báu mà không vàng bạc nào mua được.
Khi Phan Lang kể lại chuyện gặp Vũ Nương dưới thủy cung, trong đền đài nguy nga của Linh Phi, tôi đã nửa tin nửa ngờ. Nhưng khi nhìn thấy chiếc hoa vàng – kỷ vật ngày cưới của chúng tôi – trái tim tôi như bị bóp nghẹt. Chiếc hoa vẫn sáng lấp lánh như tâm hồn nàng, còn tôi thì đã mục rỗng từ lâu. Nàng nhắn tôi lập đàn giải oan bên bến sông. Đó không phải là một yêu cầu của sự oán hận, mà là một cơ hội cuối cùng nàng trao cho tôi để gột rửa phần nào tội lỗi, và cũng là để nàng được trả lại danh dự trước toàn dân thiên hạ.
Tôi đã lập đàn tràng suốt ba ngày đêm. Khói nhang nghi ngút, ánh đèn thần chiếu xuống dòng nước sâu thẳm của bến Hoàng Giang. Và rồi, giữa những làn sương khói mờ ảo, Vũ Nương hiện về. Nàng ngồi trên chiếc kiệu hoa, theo sau là đoàn tùy tùng lộng lẫy, võng lọng rực rỡ đầy sông. Hình ảnh ấy đẹp đến mức không thực, khiến tôi ngỡ mình đang lạc vào cõi mộng. Tôi gào khóc, gọi tên nàng, mong nàng quay lại để tôi được bù đắp, được quỳ dưới chân nàng mà tạ tội. Nhưng khoảng cách giữa chúng tôi giờ đây là âm dương cách biệt, là sự khác biệt giữa một linh hồn đã hóa tiên và một kẻ phàm phu tục tử đầy tội lỗi.
Nàng đứng giữa dòng sông, tiếng nói vọng vào nhẹ như hơi thở nhưng nặng tựa ngàn cân: "Thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa". Câu nói ấy chính là bản án tử hình cho hạnh phúc của tôi. Nàng chọn ở lại cung nước, chọn sự thanh khiết của chốn tiên giới vì nhân gian này quá chật hẹp và đầy rẫy những định kiến, những kẻ đa nghi như tôi. Bóng nàng mờ dần rồi tan biến vào khói sóng, để lại tôi bơ vơ trên bờ sông lạnh lẽo. Tôi hiểu rằng, sự tha thứ của nàng là có thật, nhưng sự chia lìa là vĩnh viễn. Tôi sống nốt phần đời còn lại trong sự trống vắng, mỗi ngày đều ra bến sông nhìn về phía xa xăm, nơi người vợ hiền của tôi đã hóa thân thành một huyền thoại về lòng chung thủy bị tổn thương.
Người ta thường bảo "nhân chi sơ tính bản thiện", nhưng tôi tự hỏi cái bản tính thiện ấy của mình đã mất đi từ lúc nào? Tôi là Trương Sinh, sinh ra trong một gia đình hào phú, của cải ăn mấy đời không hết. Nhưng chính cái sự giàu sang ấy, kết hợp với việc không được học hành đến nơi đến chốn, đã biến tôi thành một kẻ hợm hĩnh, gia trưởng và luôn nhìn thế giới qua lăng kính của sự sở hữu. Tôi cưới Vũ Nương bằng trăm lạng vàng, và trong thâm tâm tôi, nàng là một món hàng quý giá mà tôi có quyền định đoạt số phận.
Sự đa nghi của tôi không phải tự nhiên mà có, nó là sản phẩm của một xã hội nam quyền, nơi người đàn ông luôn lo sợ bị xúc phạm danh dự bởi người phụ nữ của mình. Khi tôi đi lính, cái tư tưởng "vợ ở nhà một mình chắc chắn sẽ có chuyện" đã bám rễ trong tâm trí tôi. Lời nói của bé Đản chỉ là cái cớ để nỗi lo sợ ấy bùng phát. Tôi đã hành xử như một kẻ bạo chúa trong gia đình. Tôi không cần bằng chứng, tôi chỉ cần cảm giác của mình. Tôi đã tước đi quyền được nói, được thanh minh của Vũ Nương. Sự vô học của tôi khiến tôi không hiểu được những ẩn ý trong lời nói của nàng, không cảm nhận được nỗi đau của một người phụ nữ bị oan ức.
Khi nàng gieo mình xuống sông, tôi chỉ nghĩ đơn giản là nàng không chịu nổi nhục nhã. Tôi không hề biết rằng cái chết đó là một sự phản kháng mãnh liệt nhất của một linh hồn bị dồn vào đường cùng. Phải đến khi đứng trước cái bóng của mình trên vách, tôi mới thấy sự ngu muội của mình thật thảm hại. Một người đàn ông cao lớn như tôi, từng xông pha trận mạc, lại thua một cái bóng ảo ảnh. Tôi đã tự tay phá nát mái ấm mà Vũ Nương đã tốn bao công sức giữ gìn trong ba năm. Sự giàu sang của tôi không mua được sự sáng suốt, địa vị của tôi không che giấu được sự hèn nhát trong tâm hồn.
Bài học xương máu mà tôi nhận ra là: sự hiểu biết và lòng tin mới là sợi dây bền chặt nhất của hôn nhân, chứ không phải vàng bạc hay uy lực. Tôi dành quãng đời còn lại để đọc sách, để học cách làm người, nhưng tất cả đã quá muộn để cứu vãn một cuộc đời. Tôi nhìn bé Đản lớn lên, lòng thắt lại vì sợ con sẽ giống mình, sợ con sẽ mang cái gen độc đoán của gia đình họ Trương. Tôi dạy con biết trân trọng người phụ nữ, biết lắng nghe trước khi phán xét. Đó là cách duy nhất để tôi tìm lại chút bình yên cho tâm hồn đầy vết sẹo của mình.
Tôi là Trương Sinh, một lão già đang đếm ngược những hơi thở cuối cùng của cuộc đời mình. Hôm nay, tôi lại ra bến Hoàng Giang – nơi lưu giữ linh hồn và nỗi oan khuên của vợ tôi, Vũ Nương. Trên tay tôi là chiếc hoa vàng mà Phan Lang đã mang về từ thủy cung năm xưa. Mỗi cánh hoa nhỏ bé này đều như đang kể lại một chương buồn của cuộc đời tôi. Tôi kể lại câu chuyện này giữa tiếng sóng vỗ rì rào, mong gió sông mang những lời tạ tội muộn màng này đến với nàng nơi cung nước của Linh Phi.
Nhìn dòng sông Hoàng Giang cuộn chảy, tôi lại thấy hiện về hình ảnh buổi tiễn biệt năm nào. Vũ Nương rót chén rượu đầy, dặn tôi giữ mình giữa chốn binh cách. Nàng không cầu vinh hiển, chỉ cầu bình an. Vậy mà người chồng này, khi trở về từ khói lửa giặc giã, lại mang theo một trái tim đầy rẫy sự ngờ vực. Tôi trở về giữa lúc mẹ mất, lòng buồn khổ không nguôi. Khi nghe con trai nói về một người cha đêm đêm vẫn đến, tôi đã để quỷ dữ đa nghi chiếm trọn tâm hồn. Tôi đã quên mất mẹ tôi từng khen nàng hết lời, tôi quên mất ba năm nàng một mình thờ mẹ nuôi con. Tôi đã sỉ nhục nàng, đuổi nàng đi trong sự tuyệt vọng.
Nỗi oan của nàng sâu như lòng sông này vậy. Khi nàng gieo mình xuống nước, nàng đã thề: "Vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ". Nàng dùng cái chết để chứng minh lòng trinh bạch, còn tôi, tôi lại dùng sự sống để gặm nhấm tội ác của mình. Chỉ đến đêm tối, ngồi một mình bên đèn khuya, khi con chỉ tay vào cái bóng của tôi mà reo lên "Cha Đản lại đến kìa!", tôi mới bàng hoàng nhận ra mình đã mù lòa đến mức nào. Cái bóng ấy chính là "người cha" mà con kể, là người cha mà Vũ Nương đã chỉ để dỗ dành con trẻ trong những đêm thiếu vắng tôi. Tôi gào khóc gọi tên nàng, nhưng bến sông Hoàng Giang chỉ trả lời bằng tiếng sóng vỗ lạnh lùng.
Cuộc đời tôi rẽ sang một trang khác khi gặp Phan Lang – người cùng làng tôi đã cứu rùa xanh rồi được Linh Phi đền ơn. Phan Lang kể gặp Vũ Nương dưới cung nước, nàng vẫn nhớ về nhà cửa, phần mộ tổ tiên nhưng không muốn về vì nỗi đau bị chồng ruồng rẫy. Nàng gửi chiếc hoa vàng này cho tôi cùng lời nhắn lập đàn giải oan. Tôi đã làm theo, lập đàn ba ngày đêm bên bến sông này. Và tôi đã thấy nàng. Nàng đứng trên kiệu hoa lộng lẫy giữa dòng, xung quanh là năm mươi chiếc xe cờ tán lộng lẫy đầy sông. Nàng rực rỡ hơn cả ánh bình minh, nhưng ánh mắt nhìn tôi thì xa xăm quá đỗi. Nàng nói: "Thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa". Hình bóng nàng tan biến, để lại chiếc hoa vàng trong tay Phan Lang và nỗi đau vĩnh cửu trong lòng tôi.
Giờ đây, khi mái đầu đã bạc trắng, tôi hiểu rằng sự hiện về của nàng là để cứu rỗi tâm hồn tôi, để tôi không phải sống trong sự nghi ngờ về đức hạnh của vợ mình. Nhưng sự ra đi của nàng là lời nhắc nhở về sự hữu hạn của lòng tin. Tôi ngồi đây, gửi chiếc hoa vàng xuống dòng sông, coi như một lời hứa sẽ gặp lại nàng ở một thế giới không còn sự đa nghi, chỉ còn tình yêu tinh khôi như thuở ban đầu. Hoàng Giang ơi, xin hãy nhắn với Vũ Nương rằng, Trương Sinh này đã biết sai, đã biết yêu nàng bằng cả trái tim đã tan vỡ của mình. Tôi đi đây, để được gặp lại nàng và quỳ xuống chân nàng mà xin lỗi một lần nữa...
Bến Hoàng Giang mùa này nước chảy xiết, tiếng sóng vỗ rì rào như tiếng thì thầm của những linh hồn dưới đáy nước. Tôi là Trương Sinh, kẻ mỗi chiều đều ra đây ngồi lặng yên như một pho tượng đá. Dòng sông này đã chứng kiến khoảnh khắc Vũ Nương gieo mình xuống để chứng minh lòng trinh bạch, và cũng chính dòng sông này đã mở ra con đường đưa nàng về với cung nước của Linh Phi. Đối với tôi, Hoàng Giang không chỉ là một dòng nước địa lý, nó là ranh giới của sự hối hận và sự cứu rỗi.
Tôi nhớ ngày nàng tự tận, trời mây xám xịt, nước sông đục ngầu. Nàng đã đứng trước bến sông, ngửa mặt lên trời mà than rằng: "Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu... thần sông có linh xin ngài chứng giám". Lời thề ấy nặng nề và đau đớn biết bao. Lúc đó tôi chưa hiểu hết ý nghĩa của "ngọc Mị Nương" hay "cỏ Ngu mĩ", tôi chỉ thấy một sự bướng bỉnh đến cực đoan. Nhưng giờ đây, khi đã trải qua bao thăng trầm, tôi hiểu rằng đó là cách duy nhất để nàng bảo vệ phẩm giá của mình trong một thế giới không có công lý. Nàng đã biến cái chết thành một sự hồi sinh trong một không gian khác, nơi nàng không còn bị ràng buộc bởi sự đa nghi của tôi.
Cuộc kỳ ngộ với Phan Lang và đàn giải oan sau này đã cho tôi một cái nhìn khác về cuộc sống. Có những sự thật không nằm ở những gì chúng ta thấy, mà nằm ở những gì chúng ta tin. Tôi đã thấy Vũ Nương hiện về, rực rỡ và uy nghiêm giữa dòng sông. Nàng không còn là người con gái Nam Xương thùy mị, cam chịu trong gian bếp nhỏ, nàng đã là một phần của dòng sông, một phần của huyền thoại. Sự rực rỡ của võng lọng, kiệu hoa trên sông ngày ấy chính là sự bù đắp của đất trời cho những uất ức mà nàng phải chịu đựng ở nhân gian.
Tôi đã già, sức lực đã cạn, nhưng trí nhớ về Vũ Nương thì vẫn xanh rì như cỏ ven sông. Tôi không còn oán trách số phận, cũng không còn dằn vặt bản thân một cách cực đoan như trước. Tôi học cách chấp nhận rằng có những sai lầm không bao giờ sửa được, nhưng chúng ta có thể sống sao cho xứng đáng với sự tha thứ của người đã khuất. Tôi nhìn dòng sông Hoàng Giang cuộn chảy, thấy trong đó hình bóng của vợ tôi đang mỉm cười. Nàng đã về với nước, đã hóa thân vào thiên nhiên đại ngàn. Tôi chỉ mong khi mình nhắm mắt xuôi tay, linh hồn tôi cũng được dòng sông này ôm ấp, để tôi có cơ hội được một lần nữa đứng trước nàng, không phải để cầu xin sự quay lại, mà để nói một lời cảm ơn muộn màng vì nàng đã từng là một phần đẹp nhất trong cuộc đời tăm tối của tôi.
Chào bạn, để đáp ứng yêu cầu viết 5 bài văn đóng vai Trương Sinh với độ dài tối thiểu 1000 chữ mỗi bài mà không trùng lặp về nội dung và cách tiếp cận, tôi sẽ khai thác sâu vào các khía cạnh: tâm lý chiến tranh, bi kịch của sự thiếu hụt giáo dục, nỗi ám ảnh về biểu tượng chiếc bóng, sự đối lập giữa thực tại và ảo ảnh kỳ ảo, và lời giáo huấn cho thế hệ mai sau.
Tôi là Trương Sinh, một kẻ mà có lẽ lịch sử và người đời sẽ mãi mãi nhắc đến như một biểu tượng của sự ngu muội và tàn nhẫn. Đêm nay, khi tiếng sương rơi trên mái lá Nam Xương, tôi ngồi lại một mình để đối diện với bóng ma của quá khứ. Ba năm chinh chiến nơi biên thùy, giữa những lán trại đầy khói súng và những đêm dài thao thức vì tiếng trống trận, tôi đã nuôi dưỡng một tình yêu với Vũ Nương. Nhưng hỡi ôi, tôi không biết rằng chính cái tình yêu đầy sự chiếm hữu và thiếu hụt niềm tin ấy lại là mầm mống cho một thảm kịch không thể cứu vãn.
Ngày tôi ra đi, Vũ Nương đã tiễn tôi bằng chén rượu đầy và những lời nói chân thành đến xé lòng. Nàng không mong ấn phong hầu, không cầu áo gấm, chỉ mong tôi bình yên trở về. Ở nơi ải xa, mỗi khi nhìn trăng soi đầu súng, tôi lại hình dung về một mái ấm nơi có người vợ hiền thục đang ngày đêm thêu thùa, chờ đợi. Nhưng chiến tranh khắc nghiệt không chỉ bào mòn thân thể mà còn làm vẩn đục tâm hồn tôi. Tôi trở nên nhạy cảm, dễ nghi ngờ và mang theo một mặc cảm của kẻ ít học phải dấn thân vào chốn binh đao. Khi chiến sự kết thúc, tôi vội vã trở về, lòng khấp khởi niềm vui đoàn tụ. Nhưng chào đón tôi lại là cái tang của mẹ già và một đứa con chưa từng biết mặt cha.
Nỗi đau mất mẹ làm tôi quẫn bách. Khi bế bé Đản ra thăm mộ, tôi đã hy vọng đứa con sẽ là nhịp cầu nối lại tình cảm sau ba năm xa cách. Nhưng lời nói ngây thơ của nó như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt tôi: "Ông lại biết nói chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít". Cơn ghen tuông, vốn là bản tính cố hữu của tôi, nay được tiếp thêm nhiên liệu từ những lời kể của con trẻ về một "người đàn ông" đêm nào cũng đến. Tôi không đủ tỉnh táo để nhận ra sự vô lý. Tôi không đủ bao dung để hỏi vợ cho ra lẽ. Trong đầu tôi lúc đó chỉ hiện lên hình ảnh người vợ lăng loàn, phản bội lòng tin của người lính đang xông pha trận mạc.
Về nhà, tôi đã vứt bỏ mọi lề luật của tình nghĩa vợ chồng. Tôi mắng nhiếc, sỉ nhục nàng bằng những lời lẽ cay nghiệt nhất. Vũ Nương khóc lóc thanh minh, đem cả ba năm giữ gìn tiết hạnh ra thề bồi, nhưng đôi tai tôi đã đóng chặt. Sự đa nghi đã biến tôi thành một bạo chúa. Ngay cả khi nàng gieo mình xuống dòng Hoàng Giang, tôi vẫn cho rằng đó là hành động chuộc lỗi của một kẻ tội lỗi. Chỉ đến khi ngồi một mình trong bóng tối, nhìn đứa con chỉ vào cái bóng của tôi trên vách mà gọi cha, tôi mới bàng hoàng nhận ra sự thật. Cái bóng ấy chính là tôi, là người cha mà Vũ Nương đã tạo ra để dỗ dành con trẻ. Tôi đã giết chết người phụ nữ yêu tôi nhất trên đời vì một ảo ảnh. Nỗi đau ấy, dù có qua bao nhiêu năm tháng, vẫn cứ rỉ máu mỗi khi tôi nhìn thấy ánh đèn dầu hắt hiu trên vách đất.
Tôi là Trương Sinh. Cuộc đời tôi là một chuỗi những sai lầm nối tiếp, mà cái sai lầm lớn nhất chính là để sự độc đoán của một gã hào phú ít học đè bẹp sự thanh cao của một tâm hồn ngọc khiết. Đã có lúc tôi nghĩ rằng cái chết của Vũ Nương sẽ khép lại mọi chuyện, nhưng không, linh hồn nàng vẫn tồn tại như một lời nhắc nhở vĩnh cửu về tội ác của tôi. Sự xuất hiện của Phan Lang cùng chiếc hoa vàng chính là lúc tôi nhận ra mình đã đánh mất một kho báu mà không vàng bạc nào mua được.
Khi Phan Lang kể lại chuyện gặp Vũ Nương dưới thủy cung, trong đền đài nguy nga của Linh Phi, tôi đã nửa tin nửa ngờ. Nhưng khi nhìn thấy chiếc hoa vàng – kỷ vật ngày cưới của chúng tôi – trái tim tôi như bị bóp nghẹt. Chiếc hoa vẫn sáng lấp lánh như tâm hồn nàng, còn tôi thì đã mục rỗng từ lâu. Nàng nhắn tôi lập đàn giải oan bên bến sông. Đó không phải là một yêu cầu của sự oán hận, mà là một cơ hội cuối cùng nàng trao cho tôi để gột rửa phần nào tội lỗi, và cũng là để nàng được trả lại danh dự trước toàn dân thiên hạ.
Tôi đã lập đàn tràng suốt ba ngày đêm. Khói nhang nghi ngút, ánh đèn thần chiếu xuống dòng nước sâu thẳm của bến Hoàng Giang. Và rồi, giữa những làn sương khói mờ ảo, Vũ Nương hiện về. Nàng ngồi trên chiếc kiệu hoa, theo sau là đoàn tùy tùng lộng lẫy, võng lọng rực rỡ đầy sông. Hình ảnh ấy đẹp đến mức không thực, khiến tôi ngỡ mình đang lạc vào cõi mộng. Tôi gào khóc, gọi tên nàng, mong nàng quay lại để tôi được bù đắp, được quỳ dưới chân nàng mà tạ tội. Nhưng khoảng cách giữa chúng tôi giờ đây là âm dương cách biệt, là sự khác biệt giữa một linh hồn đã hóa tiên và một kẻ phàm phu tục tử đầy tội lỗi.
Nàng đứng giữa dòng sông, tiếng nói vọng vào nhẹ như hơi thở nhưng nặng tựa ngàn cân: "Thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa". Câu nói ấy chính là bản án tử hình cho hạnh phúc của tôi. Nàng chọn ở lại cung nước, chọn sự thanh khiết của chốn tiên giới vì nhân gian này quá chật hẹp và đầy rẫy những định kiến, những kẻ đa nghi như tôi. Bóng nàng mờ dần rồi tan biến vào khói sóng, để lại tôi bơ vơ trên bờ sông lạnh lẽo. Tôi hiểu rằng, sự tha thứ của nàng là có thật, nhưng sự chia lìa là vĩnh viễn. Tôi sống nốt phần đời còn lại trong sự trống vắng, mỗi ngày đều ra bến sông nhìn về phía xa xăm, nơi người vợ hiền của tôi đã hóa thân thành một huyền thoại về lòng chung thủy bị tổn thương.
Người ta thường bảo "nhân chi sơ tính bản thiện", nhưng tôi tự hỏi cái bản tính thiện ấy của mình đã mất đi từ lúc nào? Tôi là Trương Sinh, sinh ra trong một gia đình hào phú, của cải ăn mấy đời không hết. Nhưng chính cái sự giàu sang ấy, kết hợp với việc không được học hành đến nơi đến chốn, đã biến tôi thành một kẻ hợm hĩnh, gia trưởng và luôn nhìn thế giới qua lăng kính của sự sở hữu. Tôi cưới Vũ Nương bằng trăm lạng vàng, và trong thâm tâm tôi, nàng là một món hàng quý giá mà tôi có quyền định đoạt số phận.
Sự đa nghi của tôi không phải tự nhiên mà có, nó là sản phẩm của một xã hội nam quyền, nơi người đàn ông luôn lo sợ bị xúc phạm danh dự bởi người phụ nữ của mình. Khi tôi đi lính, cái tư tưởng "vợ ở nhà một mình chắc chắn sẽ có chuyện" đã bám rễ trong tâm trí tôi. Lời nói của bé Đản chỉ là cái cớ để nỗi lo sợ ấy bùng phát. Tôi đã hành xử như một kẻ bạo chúa trong gia đình. Tôi không cần bằng chứng, tôi chỉ cần cảm giác của mình. Tôi đã tước đi quyền được nói, được thanh minh của Vũ Nương. Sự vô học của tôi khiến tôi không hiểu được những ẩn ý trong lời nói của nàng, không cảm nhận được nỗi đau của một người phụ nữ bị oan ức.
Khi nàng gieo mình xuống sông, tôi chỉ nghĩ đơn giản là nàng không chịu nổi nhục nhã. Tôi không hề biết rằng cái chết đó là một sự phản kháng mãnh liệt nhất của một linh hồn bị dồn vào đường cùng. Phải đến khi đứng trước cái bóng của mình trên vách, tôi mới thấy sự ngu muội của mình thật thảm hại. Một người đàn ông cao lớn như tôi, từng xông pha trận mạc, lại thua một cái bóng ảo ảnh. Tôi đã tự tay phá nát mái ấm mà Vũ Nương đã tốn bao công sức giữ gìn trong ba năm. Sự giàu sang của tôi không mua được sự sáng suốt, địa vị của tôi không che giấu được sự hèn nhát trong tâm hồn.
Bài học xương máu mà tôi nhận ra là: sự hiểu biết và lòng tin mới là sợi dây bền chặt nhất của hôn nhân, chứ không phải vàng bạc hay uy lực. Tôi dành quãng đời còn lại để đọc sách, để học cách làm người, nhưng tất cả đã quá muộn để cứu vãn một cuộc đời. Tôi nhìn bé Đản lớn lên, lòng thắt lại vì sợ con sẽ giống mình, sợ con sẽ mang cái gen độc đoán của gia đình họ Trương. Tôi dạy con biết trân trọng người phụ nữ, biết lắng nghe trước khi phán xét. Đó là cách duy nhất để tôi tìm lại chút bình yên cho tâm hồn đầy vết sẹo của mình.
Trong căn nhà vắng vẻ ở Nam Xương, mỗi khi bóng đêm buông xuống, tôi lại thấy sợ hãi những ngọn đèn. Ánh sáng hắt ra từ ngọn đèn dầu không chỉ xua tan bóng tối, mà nó còn tạo ra những cái bóng trên vách tường – những cái bóng đã từng giết chết gia đình tôi. Tôi là Trương Sinh, và cái bóng của tôi chính là kẻ thù lớn nhất mà tôi từng đối mặt.
Mọi chuyện bắt đầu từ sự ngây thơ của bé Đản. Con trẻ không biết nói dối, nhưng con trẻ cũng không biết phân biệt thực ảo. Khi tôi trở về, tôi đã quá nôn nóng muốn được làm cha, muốn được bù đắp tình cảm cho đứa con. Nhưng tôi đã vô tình biến con mình thành một công cụ để kết tội vợ mình. Mỗi lần Đản nói về "người cha đêm nào cũng đến", lòng tôi như có hàng nghìn mũi kim đâm. Tôi ghen với một kẻ lạ mặt mà tôi tưởng tượng ra, tôi ghen với sự hiện diện thường xuyên của "hắn" trong ngôi nhà khi tôi vắng mặt. Tôi đã không nhận ra rằng, người cha ấy chính là sự bù đắp tinh thần mà Vũ Nương đã dành cho con để con không thấy cô đơn.
Nỗi oan của Vũ Nương sâu như lòng sông Hoàng Giang. Nàng đã dùng chính bóng mình để thay thế tôi, để con trai có một hình mẫu người cha để yêu thương, để gọi tên mỗi tối. Hành động đó lẽ ra phải được ca ngợi như một sự hy sinh thầm lặng, một minh chứng cho tình yêu vợ chồng sâu nặng. Nhưng dưới con mắt đa nghi của tôi, nó lại trở thành bằng chứng ngoại tình. Tôi đã đẩy vợ mình đến chỗ chết chỉ vì một sự hiểu lầm mà chính mình là trung tâm. Cái bóng đó là tôi, nhưng tôi lại không nhận ra mình. Đó chẳng phải là bi kịch lớn nhất của đời người sao?
Đêm mà sự thật được hé lộ, khi Đản chỉ tay vào cái bóng của tôi và reo lên, tôi đã khuỵu xuống sàn nhà. Tôi ôm lấy con mà khóc, nhưng đứa trẻ không hiểu vì sao cha nó lại đau đớn đến thế. Tôi đã cướp mất mẹ của nó, cướp mất người phụ nữ đã vì nó mà tạo ra những ảo ảnh đẹp đẽ. Từ đó về sau, tôi không bao giờ cho phép mình chỉ vào cái bóng của mình nữa. Tôi dạy Đản rằng cha là một con người bằng xương bằng thịt, có lỗi lầm và có nỗi đau, còn mẹ là một vị tiên luôn dõi theo con từ dòng sông xa thẳm. Tôi sống trong sự ám ảnh của ánh đèn, mỗi cái bóng trên vách đều như hình dáng Vũ Nương đang đứng đó, nhìn tôi bằng ánh mắt bao dung nhưng u sầu.
Bến Hoàng Giang mùa này nước chảy xiết, tiếng sóng vỗ rì rào như tiếng thì thầm của những linh hồn dưới đáy nước. Tôi là Trương Sinh, kẻ mỗi chiều đều ra đây ngồi lặng yên như một pho tượng đá. Dòng sông này đã chứng kiến khoảnh khắc Vũ Nương gieo mình xuống để chứng minh lòng trinh bạch, và cũng chính dòng sông này đã mở ra con đường đưa nàng về với cung nước của Linh Phi. Đối với tôi, Hoàng Giang không chỉ là một dòng nước địa lý, nó là ranh giới của sự hối hận và sự cứu rỗi.
Tôi nhớ ngày nàng tự tận, trời mây xám xịt, nước sông đục ngầu. Nàng đã đứng trước bến sông, ngửa mặt lên trời mà than rằng: "Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu... thần sông có linh xin ngài chứng giám". Lời thề ấy nặng nề và đau đớn biết bao. Lúc đó tôi chưa hiểu hết ý nghĩa của "ngọc Mị Nương" hay "cỏ Ngu mĩ", tôi chỉ thấy một sự bướng bỉnh đến cực đoan. Nhưng giờ đây, khi đã trải qua bao thăng trầm, tôi hiểu rằng đó là cách duy nhất để nàng bảo vệ phẩm giá của mình trong một thế giới không có công lý. Nàng đã biến cái chết thành một sự hồi sinh trong một không gian khác, nơi nàng không còn bị ràng buộc bởi sự đa nghi của tôi.
Cuộc kỳ ngộ với Phan Lang và đàn giải oan sau này đã cho tôi một cái nhìn khác về cuộc sống. Có những sự thật không nằm ở những gì chúng ta thấy, mà nằm ở những gì chúng ta tin. Tôi đã thấy Vũ Nương hiện về, rực rỡ và uy nghiêm giữa dòng sông. Nàng không còn là người con gái Nam Xương thùy mị, cam chịu trong gian bếp nhỏ, nàng đã là một phần của dòng sông, một phần của huyền thoại. Sự rực rỡ của võng lọng, kiệu hoa trên sông ngày ấy chính là sự bù đắp của đất trời cho những uất ức mà nàng phải chịu đựng ở nhân gian.
Tôi đã già, sức lực đã cạn, nhưng trí nhớ về Vũ Nương thì vẫn xanh rì như cỏ ven sông. Tôi không còn oán trách số phận, cũng không còn dằn vặt bản thân một cách cực đoan như trước. Tôi học cách chấp nhận rằng có những sai lầm không bao giờ sửa được, nhưng chúng ta có thể sống sao cho xứng đáng với sự tha thứ của người đã khuất. Tôi nhìn dòng sông Hoàng Giang cuộn chảy, thấy trong đó hình bóng của vợ tôi đang mỉm cười. Nàng đã về với nước, đã hóa thân vào thiên nhiên đại ngàn. Tôi chỉ mong khi mình nhắm mắt xuôi tay, linh hồn tôi cũng được dòng sông này ôm ấp, để tôi có cơ hội được một lần nữa đứng trước nàng, không phải để cầu xin sự quay lại, mà để nói một lời cảm ơn muộn màng vì nàng đã từng là một phần đẹp nhất trong cuộc đời tăm tối của tôi.
Để đáp ứng yêu cầu của bạn về độ dài (mỗi bài tối thiểu 1000 chữ) và sự khác biệt hoàn toàn về góc nhìn, cốt truyện sẽ được khai thác sâu vào tâm lý, bối cảnh xã hội, và những chi tiết tưởng tượng mở rộng dựa trên nguyên tác.
Tôi là Trương Sinh. Đã rất nhiều năm trôi qua kể từ cái đêm định mệnh trên bến Hoàng Giang, tôi vẫn sống trong ngôi nhà này, nhưng tâm hồn tôi đã chết từ lâu. Mỗi khi màn đêm buông xuống, ánh đèn dầu leo lét trên vách lại gợi nhắc tôi về một tội ác mà cả đời này tôi không thể rửa sạch. Tôi không chỉ giết một người vợ, tôi đã giết chết linh hồn của một gia đình.
Tôi vốn là con nhà hào phú, ít học, tính tình vốn đã đa nghi. Khi cưới Vũ Nương – người con gái thùy mị nết na nhất vùng Nam Xương, tôi đã tự hào biết bao. Nhưng thói ích kỷ của một gã đàn ông tự cho mình quyền sở hữu đã khiến tôi luôn "phòng ngừa quá sức". Rồi cuộc chiến tranh ập đến, tôi phải lên đường tòng quân. Ba năm biên thùy là ba năm tôi sống trong khói lửa, giữa ranh giới mong manh của cái chết và sự sống. Sự khắc nghiệt của chiến trường đã biến tôi thành một con người khác: thô bạo hơn, nhạy cảm hơn và luôn nhìn mọi thứ bằng con mắt ngờ vực. Tôi khao khát ngày trở về để được bù đắp, nhưng tôi cũng lo sợ những thay đổi ở quê nhà.
Ngày trở về, tôi đón nhận tin mẹ mất. Nỗi đau ấy như một cú giáng mạnh vào tâm trí vốn đã mệt mỏi của tôi. Khi bế đứa con trai chưa từng biết mặt – bé Đản – ra thăm mộ mẹ, tôi đã hy vọng tìm thấy sự an ủi. Nhưng chính những lời ngây thơ của con lại là mồi lửa thiêu rụi tất cả. "Ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít... đêm nào cũng đến... mẹ đi cũng đi, mẹ ngồi cũng ngồi...".
Trong đầu óc mụ mị của tôi lúc ấy, tôi không nghĩ đến sự ngây thơ của trẻ nhỏ. Tôi chỉ thấy sự phản bội. Tôi hình dung ra cảnh vợ mình vui vẻ bên người khác khi tôi đang đổ máu nơi biên ải. Cơn ghen tuông cuồng nộ che lấp mọi lý trí. Tôi về nhà, vứt bỏ mọi tình nghĩa, mắng nhiếc nàng thậm tệ. Vũ Nương khóc, những giọt nước mắt ấy lúc đó tôi cho là sự giả tạo. Nàng nói về ba năm giữ tiết, nàng nói về công lao nuôi mẹ, nhưng tôi đã đóng chặt trái tim mình. Tôi đã đuổi nàng đi, mặc cho họ hàng làng xóm can ngăn. Để rồi khi nàng gieo mình xuống sông Hoàng Giang, tôi vẫn còn hậm hực cho rằng nàng chết vì xấu hổ.
Sự thức tỉnh đến thật tàn khốc. Một đêm ngồi bên đèn, khi bé Đản chỉ vào cái bóng của tôi và gọi cha, tôi đã đổ gục xuống sàn nhà. Hóa ra cái "người cha" đêm nào cũng đến, đi cũng đi, ngồi cũng ngồi chính là cái bóng của nàng trên vách. Nàng vì thương con nhớ chồng mà tạo ra một người cha ảo, còn tôi vì đa nghi mà giết chết người mẹ thật của con mình. Nỗi oan khiên này trời xanh có thấu? Sau này, dù có lập đàn giải oan, dù có thấy nàng hiện về rực rỡ giữa dòng sông, tôi cũng hiểu rằng lời tha thứ của nàng là để nàng được thanh thản, còn tôi, tôi sẽ phải sống trong địa ngục của sự hối hận cho đến hơi thở cuối cùng.
Tôi là Trương Sinh, một kẻ sinh ra trong gia đình hào phú tại Nam Xương. Người đời nhìn vào tôi thường thấy một gã đàn ông may mắn, nắm trong tay điền sản dư thừa, vợ đẹp con ngoan. Nhưng có ai thấu chăng, dưới lớp vỏ hào nhoáng ấy là một linh hồn đang rỉ máu và một khối óc u mê đã tự tay phá nát thiên đường của chính mình. Đêm nay, khi gió mùa thu rít qua kẽ lá, tôi ngồi đây trước linh sàng của mẹ tôi trong ngày giỗ trọng. Khói hương nghi ngút khiến đôi mắt tôi nhòe đi, và trong làn khói ảo ảnh ấy, hình bóng của Vũ Nương – người vợ hiền thục mà tôi đã bức tử – lại hiện về, thanh khiết và đau đớn. Tôi kể lại câu chuyện này không phải để biện minh, mà để như một sự lột trần tội lỗi, một lời cảnh tỉnh cho những kẻ có trái tim đa nghi như tôi.
Mọi chuyện bắt đầu từ sự kết duyên giữa tôi và Vũ Thị Thiết. Nàng là người con gái thùy mị nết na, nương tựa vào nhà tôi vốn hào phú. Vì mến dung hạnh của nàng, tôi đã xin mẹ đem trăm lạng vàng cưới nàng về. Nhưng hỡi ôi, bản tính đa nghi vốn có cùng thói gia trưởng của kẻ ít học đã khiến tôi luôn phòng ngừa nàng quá sức. Cuộc sum vầy chưa được bao lâu thì triều đình bắt lính đi đánh giặc Chiêm. Ngày tôi lên đường, mẹ tôi dặn dò hết lời về việc giữ mình, lường sức mà tiến. Nàng thì rót chén rượu đầy, nước mắt lưng tròng mà nói: "Thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu... chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên". Lúc ấy, tôi đã cảm động, nhưng trái tim ích kỷ của tôi vẫn chưa hiểu hết lòng nàng.
Ba năm chinh chiến, tôi trở về trong cảnh tang thương. Mẹ tôi vì nhớ con mà sinh bệnh rồi mất. Vũ Nương đã thay tôi lo liệu ma chay tế lễ chu đáo như đối với cha mẹ đẻ. Lời mẹ tôi trối lại: "Xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ" chính là sự chứng thực cao quý nhất cho đức hạnh của nàng. Vậy mà tôi, đứa con bất hiếu và gã chồng nông nổi, đã gạt phăng tất cả chỉ vì lời nói ngây thơ của bé Đản. Khi bế con ra thăm mộ mẹ, Đản nói về "người cha đêm nào cũng đến". Trong đầu óc u tối của tôi lúc đó, tôi không thấy tình mẫu tử cao đẹp, tôi chỉ thấy sự phản bội. Tôi đã mắng nhiếc, đánh đuổi nàng đi, mặc cho nàng khóc lóc minh oan, mặc cho họ hàng can ngăn.
Tôi nhớ như in buổi chiều nàng ra bến sông Hoàng Giang. Nàng đã tắm gội sạch sẽ, ngửa mặt lên trời mà thề nguyền về sự trong sạch của mình trước khi gieo mình xuống dòng nước xiết. Khi ấy, tôi vẫn còn hậm hực, cho rằng nàng chết vì xấu hổ. Chỉ đến một đêm khuya, ngồi bên ngọn đèn, khi Đản chỉ vào cái bóng của tôi trên vách mà reo lên "Cha Đản lại đến kìa!", tôi mới bàng hoàng sụp đổ. Hóa ra cái "cha" đêm đêm vẫn đến chính là cái bóng của mẹ nó trên vách tường. Vì thương con thiếu cha, nàng đã trỏ bóng mình dỗ con. Tôi ghen với chính cái bóng của mình! Một sự thật nghiệt ngã khiến tôi muốn chết đi cho rảnh nợ, nhưng tôi phải sống để nuôi con, sống để mang theo nỗi hối hận này.
Sau này, nhờ Phan Lang mang tin về, tôi mới biết nàng được Linh Phi cứu sống. Tôi đã lập đàn giải oan bên bến sông. Nàng hiện về trên kiệu hoa giữa dòng, rực rỡ và thoát tục như một vị tiên. Tôi gọi nàng, gào khóc xin nàng trở về, nhưng nàng chỉ nói vọng vào: "Thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa". Hình bóng nàng tan biến vào sương khói, để lại tôi bơ vơ bên bờ sông lạnh lẽo. Đêm nay, trước bài vị của mẹ, tôi kể lại chuyện này để tạ tội với mẹ, với nàng. Tôi đã phá nát lời chúc phúc của mẹ, phá nát cuộc đời của vợ. Sự giàu sang của gia đình này giờ đây là một gánh nặng, khi tâm hồn tôi mãi mãi không tìm thấy sự bình yên. Mong rằng những người đàn ông trong thiên hạ nhìn vào vết xe đổ của tôi mà biết trân trọng người phụ nữ bên cạnh mình trước khi mọi chuyện quá muộn màng.
Ta là Trương Sinh, chủ nhân của dinh cơ hào phú bậc nhất vùng Nam Xương này. Con nhìn xem, những chồng sách này, những thẻ tre này, ta đã dành cả nửa đời sau để nghiền ngẫm, chỉ mong gột rửa đi phần nào sự u mê, vô học đã từng giết chết mẹ con. Nay con đã trưởng thành, ta muốn kể cho con nghe sự thật về gia đình ta, về người mẹ hiền thục mà con hằng kính trọng. Ta kể không phải để con oán hận ta, mà để con hiểu rằng tri thức và lòng bao dung chính là cái gốc của hạnh phúc, còn sự ngu muội và đa nghi chính là liều thuốc độc giết chết mọi tình thâm.
Ta vốn sinh ra trong nhung lụa nhưng lại chẳng mặn mà với chữ nghĩa kinh sử. Tính ta lầm lì, lại thêm thói gia trưởng của kẻ có tiền. Khi ta xin mẹ đem trăm lạng vàng cưới mẹ con về, ta coi nàng như một báu vật để sở hữu hơn là một người bạn đời để thấu hiểu. Mẹ con, Vũ Nương, là một tâm hồn tinh tế, thanh tao. Sự đối lập giữa một gã hào phú thô lậu như ta và một người con gái tâm hồn ngọc khiết như nàng đã ngầm gieo xuống hạt giống của bi kịch. Ta luôn lo sợ mình không xứng đáng với nàng, và nỗi lo sợ ấy biến thành lòng đa nghi "phòng ngừa quá sức".
Khi ta đi lính trở về, lời con nói lúc nhỏ về một người cha "chỉ nín thin thít" đã chạm đúng vào nỗi mặc cảm vô học của ta. Ta không đủ lý trí để phân tích, không đủ bình tĩnh để lắng nghe. Ta đã dùng sức mạnh của người chồng để áp đặt tội danh cho nàng. Ta giấu không kể lời con nói, chỉ dùng những lời bóng gió thô thiển để mắng chửi. Ta đã biến ngôi nhà này thành một địa ngục trần gian. Mẹ con đã khóc, lời nàng thanh minh "cách biệt ba năm giữ gìn một tiết" đẫm nước mắt, nhưng ta khi ấy như một con thú dữ bị thương, chỉ biết cào xé tất cả. Ta đã đuổi nàng đi, để rồi chính tay ta đã dìm chết viên ngọc quý của đời mình dưới đáy Hoàng Giang.
Sự tỉnh ngộ đến thật muộn màng và đắng cay khi ta nhận ra cái "cha" trên vách chính là ảo ảnh mà mẹ con tạo ra để xoa dịu nỗi đau thiếu vắng chồng cho con. Một kẻ ít học như ta đã không phân biệt được đâu là bóng, đâu là hình. Ta đã ghen với ảo ảnh và giết chết thực tại. Sau này, khi gặp Phan Lang – người được Linh Phi cứu sống – ta đã lập đàn giải oan. Nhìn mẹ con hiện về rực rỡ giữa dòng sông Hoàng Giang trên chiếc kiệu hoa, ta mới thấy rõ sự thấp kém của mình. Nàng đã trở thành tiên, thoát ly khỏi chốn nhân gian đầy rẫy sự u mê, còn ta vẫn mãi là kẻ phàm phu tục tử bị giam cầm trong nỗi hối hận khôn nguôi.
Con ạ, ta kể chuyện này để con biết rằng, sự vô học không chỉ là không biết chữ, mà là không biết tin tưởng và không biết yêu thương đúng cách. Ta đã dành cả đời còn lại để hương khói cho mẹ con, để dạy con thành người có chữ, có nghĩa. Mỗi tối khi nhìn cái bóng của ta trên vách, ta lại thấy hình bóng mẹ con đang mỉm cười bao dung. Nàng đã không về, đó là sự trừng phạt cao thượng nhất dành cho ta. Con hãy nhớ lấy câu chuyện này như một lời răn dạy, để sau này đối xử với người phụ nữ của đời con bằng tất cả sự chân thành và thấu hiểu mà ta đã từng không có được.
Xem thêm:
Qua việc đóng vai Trương Sinh kể lại Chuyện người con gái Nam Xương, người đọc cảm nhận sâu sắc nỗi đau của kẻ gây ra bi kịch cũng như số phận oan khuất của người phụ nữ trong xã hội xưa. Câu chuyện là lời cảnh tỉnh về thói đa nghi, đồng thời thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.
Bài viết có hữu ích với bạn không?
Có
Không
Cám ơn bạn đã phản hồi!

