Tác giả: Bà Huyện Thanh Quan – một trong những nữ sĩ hiếm hoi và lừng lẫy của văn học trung đại với phong cách thơ trang trọng, hoài cổ.
Tác phẩm: Sáng tác trong chuyến đi vào Phú Xuân (Huế) nhận chức Cung trung giáo tập.
Vấn đề nghị luận: Cảnh sắc thiên nhiên Đèo Ngang và tâm trạng nhớ nước thương nhà của tác giả.
A. Hai câu đề: Cái nhìn bao quát về cảnh vật Đèo Ngang
"Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà": Thời gian nghệ thuật là buổi hoàng hôn – thời điểm dễ gợi buồn, gợi nỗi nhớ nhà.
"Cỏ cây chen đá, lá chen hoa": Điệp từ "chen" kết hợp với hình ảnh thiên nhiên gợi vẻ đẹp hoang sơ, rậm rạp, đầy sức sống nhưng cũng có phần rậm rạp, hoang dại.
B. Hai câu thực: Sự sống con người giữa thiên nhiên bao la
"Lom khom dưới núi tiều vài chú": Nghệ thuật đảo ngữ đưa từ láy "lom khom" lên đầu câu nhấn mạnh sự nhỏ bé, thưa thớt của con người.
"Lác đác bên sông chợ mấy nhà": Từ láy "lác đác" gợi sự vắng vẻ, heo hút của cuộc sống vùng biên ải.
Nhận xét: Cảnh có người nhưng càng làm tăng thêm cái tĩnh lặng, cô quạnh của không gian.
C. Hai câu luận: Tiếng lòng hoài cổ và nỗi nhớ thương
"Nhớ nước đau lòng con quốc quốc": Mượn tiếng chim cuốc để gửi gắm nỗi nhớ về một thời vàng son (điển tích Thục Đế). Cách chơi chữ "quốc quốc" (nước) đầy tinh tế.
"Thương nhà mỏi miệng cái gia gia": Tiếng chim đa đa kêu "gia gia" (nhà) thể hiện nỗi niềm khao khát hơi ấm gia đình của người lữ khách phương xa.
Cảm xúc: Nỗi buồn từ cảnh vật đã thấm đẫm vào tâm tưởng, trở thành nỗi đau đáu về quá khứ và gia đình.
D. Hai câu kết: Sự đối lập giữa con người và vũ trụ
"Dừng chân đứng lại, trời non nước": Không gian mở ra vô tận (trời, non, nước) bao la, hùng vĩ.
"Một mảnh tình riêng, ta với ta": Chỉ còn lại "một mảnh tình" bé nhỏ đối lập với thiên nhiên rộng lớn. Cụm từ "ta với ta" nhấn mạnh sự cô đơn tuyệt đối, không có ai để sẻ chia.
Nghệ thuật: Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật điêu luyện; nghệ thuật lấy động tả tĩnh, đảo ngữ, đối lập, điển tích và chơi chữ độc đáo.
Nội dung: Bài thơ là tiếng lòng yêu nước, thương nhà thầm kín nhưng vô cùng sâu sắc của nữ sĩ.
Bên cạnh việc rèn luyện thói quen học tập tốt, cha mẹ cũng nên quan tâm đến dinh dưỡng hằng ngày cho bé. Các sản phẩm như sữa tươi, sữa chua, sữa lúa mạch hay sữa hạt,... là lựa chọn tiện lợi, giàu dưỡng chất, giúp bé bổ sung năng lượng, canxi, vitamin và khoáng chất cần thiết. Với thiết kế nhỏ gọn, dễ mang theo, những loại sữa này rất phù hợp để bé dùng trong giờ ra chơi hoặc mang đến trường, giúp bé luôn khỏe mạnh, học tập tập trung và phát triển toàn diện.
Bà Huyện Thanh Quan một trong những nữ văn sĩ nổi tiếng của văn học trung đại Việt Nam. Thơ văn bà để lại cho hậu thế không còn nhiều, trong đó nổi tiếng nhất là phải kể đến bài Qua đèo Ngang. Đây là bài thơ tả cảnh ngụ tình, bộc lộ nỗi niềm, tâm trạng của bà khi trên đường vào kinh đô Huế nhận chức. Mở đầu bài thơ là bức tranh phong cảnh thấm đẫm nỗi buồn hiu quạnh:
“Bước đến đèo Ngang bóng xế tàCỏ cây chen đá, lá chen hoa”
Hai câu thơ mở ra không gian, thời gian nghệ thuật quen thuộc trong thơ trung đại, đây đồng thời cũng là nét đặc trưng phong cách của Bà Huyện Thanh Quan: chiều tà và bóng hoàng hôn. Thời gian là buổi chiều nhưng không phải là lúc đầu hôm mà là chiều tà, thời điểm chuyển giao giữa chiều và tối, ánh nắng chỉ còn nhạt nhòa và sắp lặn. Không gian mênh mông, rộng lớn, với cả trời, non, nước nhưng tất cả đều im ắng, vắng lặng đến rợn ngợp.
Trong không gian đó, hình ảnh cây cối, hoa cỏ hiện lên có phần hoang dại, chúng chen chúc nhau mọc lên. Từ “chen” gợi sức sống mãnh liệt của muôn loài trước cái cằn cỗi của đất đai, cái khắc nghiệt của thời tiết. Đồng thời từ này còn gợi lên thiên nhiên có phần hoang dã, vô trật tự. Không gian và thiên nhiên cây cỏ hòa quyện vào nhau càng làm sâu đậm thêm ấn tượng về mảnh đất hoang vu. Bức tranh được điểm thêm hơi thở, sự sống của con người:
“Lom khom dưới núi tiều vài chúLác đác bên sông chợ mấy nhà”
Những tưởng rằng với sự xuất hiện của sự sống con người quang cảnh sẽ bớt vắng lặng, cô đơn hơn nhưng thực tế lại không phải vậy. Sự xuất hiện của con người trái lại càng khiến cảnh vật thêm phần heo hút, hoang vắng hơn. Nghệ thuật đảo ngữ nhấn mạnh vào dáng “lom khom” của những chú tiều, cái “lác đác” của mấy ngôi nhà ven sông kết hợp các từ chỉ số lượng ít ỏi “vài”, “mấy” khiến cho hình bóng con người đã nhỏ lại càng nhỏ hơn, cuộc sống đã hiu quạnh lại càng hiu quạnh hơn.
Bức tranh về một thế giới cô liêu hiện lên rõ hơn bao giờ hết. Nhìn lại cả hai câu thơ ta thấy chúng có đầy đủ các yếu tố của một bức tranh sơn thủy, hữu tình: núi, sông, tiều phu, chợ. Thế nhưng những yếu tố ấy khi hợp lại với nhau và khúc xạ qua cảm nhận của nhà thơ lại gợi lên một miền sơn cước hiu quạnh, heo hút.
Bốn câu thơ cuối nói lên nỗi niềm, tâm sự của tác giả: “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc/Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”. Những âm thanh của cuốc kêu cũng chính là nỗi lòng của Bà Huyện Thanh Quan. Tài dùng chữ của bà đã đạt đến độ điêu luyện: chữ quốc là nước đồng âm với chữ cuốc tức con chim, chữ gia là nhà gần âm với từ chữ đa là chim đa đa.
Chữ vừa ghi âm thanh nhưng đồng thời còn bộc lộ tâm trạng, ý tứ của tác giả, qua đó làm nổi bật tâm trạng, nỗi niềm của nữ sĩ. Vì phải xa quê hương, vào miền đất mới nhận chức nên bà nhớ nhà, nhớ gia đình. Còn nhớ nước tức là bà đang nhớ về quá khứ huy hoàng của triều đại cũ. Hai chữ nhớ nước, thương nhà được tác giả đảo lên đầu câu càng nhấn mạnh và làm nổi bật nỗi niềm của bà.
Hai câu thơ cuối bộc lộ trực tiếp nỗi niềm cô đơn khắc khoải của nhà thơ: “Dừng chân đứng lại trời, non, nước/ Một mảnh tình riêng ta với ta”. Không gian mênh mông khiến con người lại càng trở nên bé nhỏ, cô đơn hơn. Sự vật tưởng là hòa quyện, gắn kết với nhau mà thực chất lại đang chia lìa đôi ngả, trời, non, nước được tách biệt với nhau bằng những dấu phẩy, đó là cái nhìn mang tính tâm trạng của chính tác giả.
Câu thơ cuối như là một lời khẳng định trực tiếp nỗi cô đơn đó “một mảnh tình” “ta với ta”. Đại từ “ta” không còn mang ý nghĩa chỉ chung, cộng đồng mà là cá nhân, chỉ một mình tác giả. Trong hai câu kết, tất cả là một sự gián cách, là một thế giới riêng, cô đơn đến tuyệt đối.
Không chỉ đặc sắc về nội dung, tác phẩm còn là điển hình mẫu mực về nghệ thuật cổ điển Đường thi. Bà sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú, chuẩn mực về niêm, luật, đối, ngôn ngữ trau chuốt, mượt mà mặc dù đã được Việt hóa. Sử dụng thành công đảo ngữ, chơi chữ. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình xuất sắc, tả cảnh vật mà bộc lộ nỗi niềm, tâm trạng của tác giả.
Qua bài thơ “Qua Đèo Ngang” ta không chỉ ấn tượng bởi nghệ thuật tài tình, kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất cổ điển đường thi và chất dân dã của dân tộc, mà còn bị cuốn hút bởi nội dung. Bức tranh phong cảnh đèo Ngang hiu quanh, mênh mông đã thể hiện tâm trạng buồn bã, nỗi niềm nhớ nước, thương nhà của tác giả.
Bài 1: Qua Đèo Ngang – Khúc hoài niệm và bi kịch của một linh hồn cổ điểnTrong dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam thế kỷ XIX, nếu Hồ Xuân Hương hiện lên như một thực thể nổi loạn với những vần thơ phúng túng, thì Bà Huyện Thanh Quan lại là một nốt trầm trang nhã, đài các và đượm buồn. "Qua Đèo Ngang" không chỉ là một bài thơ tả cảnh, mà là một kiệt tác của tâm trạng, nơi mỗi chữ, mỗi vần đều thấm đẫm nỗi lòng của một nữ sĩ tài hoa đang đứng giữa ngã ba của lịch sử. Sáng tác trên đường vào Phú Xuân nhậm chức, bài thơ là sự giao thoa tuyệt mỹ giữa cảnh sắc thiên nhiên hoang sơ và nỗi niềm hoài cổ sâu sắc của một người con luôn hướng về những giá trị vàng son đã mất.
Mở đầu bài thơ, thời gian nghệ thuật hiện lên đầy ám ảnh: "Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà". Buổi chiều tà (hoàng hôn) trong thi ca cổ điển luôn là thời điểm của sự tàn tạ, của nỗi nhớ nhà và sự cô đơn. Khi ánh dương dần tắt, bóng tối bắt đầu bủa vây cũng là lúc con người dễ đối diện với chính mình nhất. Đứng trước ngưỡng cửa của một vùng đất mới, nữ sĩ thấy mình nhỏ bé trước sự hùng vĩ của Đèo Ngang. Cảnh vật hiện lên qua cái nhìn sắc sảo: "Cỏ cây chen đá, lá chen hoa". Điệp từ "chen" được lặp lại hai lần gợi lên một sức sống hoang dại, rậm rạp nhưng cũng đầy sự lộn xộn, thiếu vắng bàn tay chăm sóc của con người. Thiên nhiên ở đây không phải là vườn hoa cây cảnh chốn kinh kỳ mà là một thực thể tự nhiên nguyên sơ, vây hãm lấy con người.
Nỗi cô đơn ấy càng tăng thêm khi tác giả đi sâu vào quan sát sự sống: "Lom khom dưới núi tiều vài chú / Lác đác bên sông chợ mấy nhà". Nghệ thuật đảo ngữ đưa các từ láy "lom khom", "lác đác" lên đầu câu đã nhấn mạnh sự thưa thớt, nhỏ bé của con người giữa núi non trùng điệp. Hình ảnh "vài chú tiều", "mấy nhà chợ" không làm cho cảnh vật ấm cúng hơn mà trái lại, nó càng tô đậm cái vẻ heo hút, quạnh quẽ của vùng biên viễn. Con người hiện lên như những nét chấm phá yếu ớt trên một bức tranh thủy mặc bao la, gợi sự lạc lõng và xa xăm.
Đỉnh cao của bài thơ nằm ở hai câu luận với nghệ thuật chơi chữ và điển tích tài tình: "Nhớ nước đau lòng con quốc quốc / Thương nhà mỏi miệng cái gia gia". Tiếng chim cuốc và chim đa đa kêu vang giữa rừng vắng không chỉ là âm thanh thực mà là tiếng lòng của nữ sĩ. "Quốc quốc" gợi nhớ về đất nước, về một vương triều Lê - Trịnh đã lùi vào dĩ vãng; "gia gia" gợi nỗi nhớ về mái ấm gia đình ở Thăng Long xa xôi. Đây là nỗi buồn của một người lữ thứ, nhưng sâu xa hơn là nỗi đau của một "di thần" luôn hoài niệm về quá khứ lịch sử. Câu kết "Một mảnh tình riêng, ta với ta" là một sự thu mình tuyệt đối. Đối lập với cái vô biên của "trời, non, nước" là "một mảnh tình" bé nhỏ và đơn côi. Cụm từ "ta với ta" ở đây không phải là sự hòa hợp tri kỷ như trong thơ Nguyễn Khuyến, mà là sự đối diện giữa bản ngã và sự cô độc, một nỗi buồn không thể sẻ chia cùng ai giữa vũ trụ vô cùng.
Để phân tích sự thành công của "Qua Đèo Ngang", ta không thể bỏ qua kỹ thuật điêu luyện trong việc vận dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật của Bà Huyện Thanh Quan. Bài thơ là một chỉnh thể mẫu mực, nơi niêm, luật, vần, đối đều đạt đến độ hoàn hảo, giúp chuyển tải một nội dung cảm xúc phức tạp và sâu sắc.
Trong hai câu thực, nữ sĩ đã sử dụng triệt đối thuật đảo ngữ và đối lập cực kỳ sắc sảo. "Lom khom dưới núi tiều vài chú" đối với "Lác đác bên sông chợ mấy nhà". Sự đối lập giữa "dưới núi" và "bên sông", giữa "vài chú tiều" và "mấy nhà chợ" không chỉ tạo nên sự cân xứng về hình thức mà còn gợi ra một không gian trống trải. Các tính từ chỉ trạng thái được đặt lên đầu câu làm cho hình ảnh con người trở nên động hơn nhưng cũng nhỏ bé hơn trước thiên nhiên tĩnh lặng. Đây là bút pháp "lấy động tả tĩnh" và "lấy ít gợi nhiều" đặc trưng của thơ cổ, khiến người đọc cảm nhận được cái lặng lẽ đến rợn ngợp của Đèo Ngang vào buổi chiều tà.
Bước sang hai câu luận, tác giả lại sử dụng nghệ thuật đối thanh và đối ý kết hợp với thủ pháp mượn vật ngụ tình. "Nhớ nước – Thương nhà", "con quốc quốc – cái gia gia". Tiếng chim không chỉ là âm thanh của tự nhiên mà là tiếng kêu từ trong tâm tưởng. Việc sử dụng điển tích về chim cuốc (vua Thục Đế mất nước) đã nâng tầm nỗi buồn cá nhân thành nỗi buồn lịch sử. Cách chơi chữ đồng âm (quốc – nước, gia – nhà) cho thấy sự tinh tế và học vấn uyên bác của nữ sĩ. Âm thanh của tiếng chim như xoáy vào lòng người lữ khách, làm thức dậy những nỗi niềm trăn trở về thời cuộc và thân phận.
Câu kết "Một mảnh tình riêng, ta với ta" là sự bùng nổ của cái tôi trữ tình. Cấu trúc bài thơ đi từ không gian rộng lớn của thiên nhiên (câu đề) đến sự sống con người (câu thực), thấm sâu vào tâm linh (câu luận) và cuối cùng cô đọng lại ở một điểm cực nhỏ (câu kết). Sự tương phản gay gắt giữa không gian "trời, non, nước" bao la vĩnh hằng với "một mảnh tình riêng" bé nhỏ, mong manh chính là bi kịch của con người trước thời gian và vũ trụ. "Ta với ta" là một sự khép kín hoàn toàn, khẳng định sự cô đơn tuyệt đối của con người khi đối diện với chính mình. Bài thơ vì thế đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, xứng đáng là viên ngọc quý trong kho tàng văn học Việt Nam.
Bài thơ "Qua Đèo Ngang" không chỉ là một bức tranh phong cảnh thiên nhiên mà còn là một văn bản chứa đựng những thông điệp lịch sử kín đáo. Đứng trước Đèo Ngang – ranh giới tự nhiên giữa đàng Trong và đàng Ngoài cũ, Bà Huyện Thanh Quan đã gửi gắm vào đó tâm sự của một "di thần" nhà Lê đang sống dưới triều Nguyễn.
Cảnh Đèo Ngang qua mắt nữ sĩ hiện lên với vẻ đẹp hoang sơ: "Cỏ cây chen đá, lá chen hoa". Sự rậm rạp, um tùm của thiên nhiên gợi sự xâm lấn của thời gian đối với những giá trị cũ. Với một người lớn lên ở kinh thành Thăng Long nghìn năm văn hiến như Bà Huyện Thanh Quan, cái hoang dại của Đèo Ngang gợi cảm giác bất an và xa lạ. Câu thơ mở đầu với mốc thời gian "bóng xế tà" không chỉ tả cảnh hoàng hôn mà còn ngụ ý về buổi xế chiều của một thời đại, một vương triều mà bà luôn kính trọng và nhớ nhung.
Tâm sự hoài cổ ấy được bộc lộ trực tiếp qua tiếng chim: "Nhớ nước đau lòng con quốc quốc". Chữ "quốc" ở đây không chỉ là đất nước nói chung, mà là nỗi đau về một quốc gia xưa cũ, một thể chế đã lùi vào quá khứ. Tiếng chim quốc gợi nhớ điển tích vua Thục mất nước, hồn hóa thành chim cuốc kêu đau thương. Kết hợp với nỗi "thương nhà" (gia gia), ta thấy một nỗi đau kép: nỗi đau mất đi chỗ dựa chính trị (nhà Lê) và nỗi đau phải xa rời mái ấm gia đình thân thuộc để dấn thân vào chốn quan trường mới đầy xa lạ.
Câu kết "Một mảnh tình riêng, ta với ta" là sự khẳng định một cái tôi cô độc nhưng kiêu hãnh. Giữa một thế giới đang thay đổi, giữa triều đại mới (nhà Nguyễn) đang vươn mình, nữ sĩ vẫn giữ cho riêng mình "một mảnh tình" với những giá trị cũ. Bà không tìm thấy sự đồng điệu ở cảnh vật vùng đất mới, cũng không tìm thấy người tri kỷ để sẻ chia. Sự cô đơn ấy mang tầm vóc nhân văn, thể hiện lòng trung trinh và sự thủy chung với quá khứ. "Qua Đèo Ngang" vì thế là một bài ca về lòng trung nghĩa và sự nhạy cảm của người trí thức trước những biến động của dòng đời.
Xem thêm:
Một trong những chủ đề lớn của văn học trung đại là mối quan hệ giữa "tiểu ngã" (con người) và "đại ngã" (vũ trụ). Trong bài thơ "Qua Đèo Ngang", sự đối lập này được đẩy đến mức cực đoan để làm nổi bật nỗi buồn và sự cô độc của con người lữ thứ.
Từ hai câu thực, ta đã thấy sự chênh lệch về tầm vóc. Con người xuất hiện trong trạng thái "lom khom", thu nhỏ mình lại dưới chân núi đại ngàn. Sự sống xã hội chỉ là "lác đác mấy nhà chợ" bên dòng sông vắng. Sự nhỏ bé, thưa thớt của nhân thế càng làm cho thiên nhiên Đèo Ngang thêm phần hùng vĩ và rợn ngợp. Con người dường như chỉ là khách trọ qua đường, không thể làm chủ hay làm ấm không gian hoang sơ này.
Đến câu kết, sự đối lập ấy được khái quát thành một biểu tượng nghệ thuật: "Dừng chân đứng lại, trời non nước / Một mảnh tình riêng, ta với ta". Phía trước là không gian ba chiều mênh mông: "trời", "non", "nước" – những thực thể vĩnh hằng, vô tận của vũ trụ. Phía sau là "một mảnh tình riêng" – một cái tôi đơn lẻ, mong manh và hữu hạn. Chữ "mảnh" gợi sự nhỏ bé, vỡ vụn, không trọn vẹn. Con người đứng giữa đất trời bao la nhưng lại thấy mình bơ vơ nhất.
Cụm từ "ta với ta" kết thúc bài thơ như một nốt lặng đầy ám ảnh. Không phải "ta với người", cũng không phải "ta với cảnh", mà chỉ là "ta" đối diện với chính "ta". Đây là đỉnh cao của nỗi cô đơn. Trong cái vô cùng của không gian và cái vô tận của thời gian, con người chỉ còn biết bám víu vào chính tâm hồn mình. Sự đối lập này không chỉ gợi buồn mà còn khơi gợi những suy ngẫm triết học về vị trí của con người trong vũ giới. Bà Huyện Thanh Quan đã tạc dựng một bức tượng đài về sự cô độc vĩ đại của con người trước thiên nhiên kỳ vĩ.
"Qua Đèo Ngang" là minh chứng cho tài năng bậc thầy của Bà Huyện Thanh Quan trong việc tạo ra một không gian thơ đậm chất cổ điển: trang nhã, điêu luyện và hàm súc. Mỗi hình ảnh trong bài thơ đều được chọn lọc kỹ lưỡng, mang đậm tính ước lệ nhưng vẫn đầy hơi thở của tâm trạng.
Chất cổ điển trước hết nằm ở cách chọn thời gian và không gian. Buổi hoàng hôn (bóng xế tà) và con đèo (nơi ranh giới) là những thi liệu quen thuộc trong thơ cổ, thường dùng để khơi gợi cảm hứng ly biệt và nỗi nhớ. Tuy nhiên, dưới ngòi bút của nữ sĩ, cảnh vật không hề khô khan mà rất sống động. "Cỏ cây chen đá, lá chen hoa" tạo ra một bức tranh đa sắc thái, gợi sự giao tranh thầm lặng của thiên nhiên. Những từ láy như "lom khom", "lác đác" không chỉ gợi hình mà còn gợi nhạc điệu trầm buồn, chậm rãi như bước chân của người lữ khách đang trĩu nặng suy tư.
Chất trữ tình của bài thơ tỏa ra từ nỗi lòng "nhớ nước thương nhà". Cách mượn tiếng chim để nói hộ lòng người là một thủ pháp nghệ thuật tinh tế. Tiếng chim kêu không làm không gian ồn ào hơn mà trái lại, nó càng tô đậm cái tĩnh mịch, thanh vắng của núi rừng. Nỗi buồn ở đây không bi lụy, yếu đuối mà mang một vẻ đẹp quý phái, kiêu sa. Đó là nỗi buồn của một người có học vấn, có tâm hồn nhạy cảm và có một chiều sâu văn hóa đáng nể.
Bài thơ kết thúc bằng một hình ảnh đầy dư ba: "Một mảnh tình riêng, ta với ta". Cách ngắt nhịp 4/3 và việc lặp lại từ "ta" tạo nên một âm hưởng luẩn quẩn, không lối thoát. Nó phản ánh một trạng thái tâm lý bế tắc nhưng đầy tự trọng. Qua "Qua Đèo Ngang", ta thấy một Bà Huyện Thanh Quan vừa là một danh sĩ lỗi lạc với kỹ thuật Đường luật thượng thừa, vừa là một người phụ nữ với tâm hồn đa sầu đa cảm. Bài thơ mãi mãi trường tồn như một chuẩn mực của vẻ đẹp cổ điển Việt Nam.
Ai đã từng một lần đi trên con đường xuyên Việt, hẳn đều biết đến đèo Ngang. Đây là một đèo khá dài và khá cao, nằm vắt ngang sườn núi cheo leo, hiểm trở của khúc cuối dãy Hoành Sơn, trước khi đâm ra biển. Hình ảnh đèo Ngang đã được đưa vào bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan, nhằm gửi gắm nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Đèo Ngang là ranh giới tự nhiên giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình. Thuở xưa, bao người vào kinh đô Huế để thi cử hay làm việc cho triều đình phong kiến đã đi qua đèo này rồi lâng lâng xúc cảm trước vẻ đẹp của nó mà làm thơ ca ngợi. Bà Huyện Thanh Quan nhân dịp từ Thăng Long vào Huế nhậm chức Cung trung giáo tập (dạy dỗ các cung nữ trong cung) đã sáng tác bài Qua đèo Ngang.
Đằng sau bức tranh phong cảnh thiên nhiên là tâm trạng của nữ sĩ: cô đơn, nhớ nhà và hoài niệm về một thời đại huy hoàng đã qua. Có thể coi đây là bài thơ hay nhất trong những bài thơ sáng tác về thắng cảnh này. Câu phá đề đơn giản chỉ là lời giới thiệu về thời điểm tác giả đặt chân đến đèo Ngang:
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà. Đó là lúc mặt trời đang lặn, phía tây chỉ còn chút nắng hắt những tia sáng yếu ớt lên nền trời đang sẫm dần. Thời điểm này rất dễ gợi buồn trong lòng người, nhất là đối với kẻ lữ thứ tha hương. Tuy vậy, trời vẫn còn đủ sáng để nhà thơ nhận ra thiên nhiên nơi đây đẹp như một bức tranh thủy mặc: “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”.
Có cái gì đó như linh hồn của tạo vật thấp thoáng sau từng chữ. Điệp từ chen, các vế đối: cây chen đá, lá chen hoa miêu tả sức sống mãnh liệt của một vùng rừng núi hoang vu. Cảnh đẹp thì có đẹp nhưng nhuốm màu buồn bã, quạnh hiu, thiếu hơi ấm con người. Những bông hoa rừng đây đó không đủ làm sáng, làm vui bức tranh núi non lúc ngày tàn, đêm xuống.
Trên bối cảnh thiên nhiên bao la ấy thấp thoáng bóng dáng con người và hơi hướng cuộc sống nhưng cũng chỉ ít ỏi, mờ nhạt, xa vời:
“Lom khom dưới núi tiều vài chú,Lác đác bên sông chợ mấy nhà.”
Con mắt tinh tế của nhà thơ phát hiện ra nét đặc trưng của người và cảnh trước tiên nên bà đã dùng nghệ thuật đảo ngữ để nhấn mạnh đặc trưng ấy. Dáng vẻ lom khom của mấy chú tiều hái củi sườn non làm cho con người vốn đã nhỏ bé lại càng thêm nhỏ bé trước thiên nhiên cao rộng.
Cái chợ là nơi biểu hiện sức sống của một cộng đồng làng xã, lẽ ra tấp nập đông vui, nhưng ở đây nó chỉ là mấy túp lều xơ xác bên sông… Bao trùm lên cảnh vật là một nỗi buồn tê tái và nỗi buồn ấy thấm sâu vào lòng người:
“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.”
Giữa không gian tĩnh lặng gần như tuyệt đối ấy bỗng vẳng lên tiếng chim quốc khắc khoải, tiếng chim đa đa não nuột. Đó là những âm thanh có thật mà cũng có thể là tiếng vọng từ tâm trạng chất chứa nỗi buồn thời cuộc của nhà thơ. Mượn bút pháp ước lệ và nghệ thuật chơi chữ (từ đồng âm khác nghĩa) để nói lên lòng mình trước cảnh, đó là tài hoa của nữ sĩ.
Tiếng chim kêu không làm cho cảnh vui lên thêm chút nào mà lại làm tăng phần quạnh quẽ, cô liêu. Phải chăng tiếng chim chính là tiếng lòng của kẻ đang mang nặng tâm trạng u buồn, hoài vọng, nhớ nước thương nhà?!
Hồn cảnh, hồn người như có nét tương đồng, cho dù về hình thức hoàn toàn tương phản. Cái bao la, vô tận của non nước tô đậm cái cô đơn, chơ vơ của con người và ngược lại. Vì vậy nên nỗi buồn càng lắng đọng:
“Dừng chân đứng lại trời, non, nước,Một mảnh tình riêng, ta với ta.”
Quả là một nỗi buồn lớn lao, thấm thía, khó san sẻ, giãi bày. Nó như kết thành hình, thành khối, thành mảnh tình riêng khiến nhà thơ phải thốt lên chua xót: ta với ta. Chỉ có ta hiểu lòng ta mà thôi! Vì thế nên sự cô đơn càng tăng lên gấp bội.
Bài thơ “Qua Đèo Ngang” tuy ra đời cách đây đã hơn một thế kỉ nhưng giá trị của nó vẫn nguyên vẹn trước thử thách của thời gian. Bao người yêu thơ thuộc lòng bài thơ này và ca ngợi tài năng của tác giả. Thể thơ Đường luật kiểu cách, sang trọng vào tay nữ sĩ đã trở thành gần gũi, dễ hiểu với người đọc bởi ngôn ngữ giản dị, trong sáng và những hình ảnh dân dã quen thuộc.
Xem thêm: 100+ Cách viết kết bài Vợ chồng A Phủ hay nhất, gây ấn tượng mạnh
Một trong những nữ thi sĩ tiêu biểu của nền văn học Việt Nam trung đại là Bà Huyện Thanh Quan. Tác phẩm nổi bật của bà phải kể đến bài thơ “Qua Đèo Ngang”.
Mở đầu bài thơ, tác giả đã khắc họa thiên nhiên nơi đèo Ngang tràn đầy sức sống:
“Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”
Thời điểm mà Bà Huyện Thanh Quan bước đến đèo Ngang là khi “bóng xế tà” - kết thúc của một ngày. Đó là khi con người trở về nhà để nghỉ ngơi sau một ngày mệt mỏi. Trước mắt tác giả là thiên nhiên nơi đèo Ngang trần đầy sức sống. Cách sử dụng điệp từ “chen” kết hợp với hình ảnh “đá, lá, hoa” cho thấy sự sống đang trỗi dậy. Khung cảnh đèo Ngang được khắc họa chỉ bằng vài nét nhưng lại hiện ra đầy chân thực và sinh động.
Và trong nền bức tranh thiên nhiên đó, con người xuất hiện. Nhà thơ đã sử dụng nghệ thuật đảo ngữ trong hai câu thơ tiếp theo: “lom khom - tiều vài chú”, “lác đác - chợ mấy nhà” cho thấy hình ảnh vài chú tiều với dáng đứng lom khom dưới chân núi, vài căn nhà nhỏ bé thưa thớt, lác đác bên sông. Cách sử dụng nhằm nhấn mạnh sự nhỏ bé của con người giữa thiên nhiên rộng lớn. Từ đó, sự cô đơn của tác giả càng được thể hiện rõ hơn.
“Nhớ nước, đau lòng, con quốc quốc,Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.”
Hình ảnh “con quốc quốc” và “cái gia gia” không chỉ là hình ảnh thực về hai loại chim (chim đỗ quyên, chim đa đa). Tiếng kêu “quốc quốc”, “đa đa” nghe da diết đã còn bộc lộ nỗi lòng nhớ thương của mình với đất nước, quê hương.
Đến câu thơ “Dừng chân đứng lại, trời, non, nước” khắc họa hình ảnh nhà thơ một mình đứng tại nơi Đèo Ngang, đưa mắt nhìn ra xa cũng chỉ thấy thiên nhiên rộng lớn phía trước (có bầu trời, có núi non, dòng sông). Sự cô đơn của nhà thơ: “một mảnh tình riêng” - tình cảm riêng tư của nhà thơ không có ai để chia sẻ:
“Dừng chân đứng lại trời, non, nướcMột mảnh tình riêng, ta với ta”
Cảnh vật thiên nhiên thì rộng lớn, còn tác giả chỉ có “một mảnh tình riêng”. Và cái mảnh tình con con ấy cũng chỉ có “ta với ta”. Nếu trong “Bạn đến chơi nhà”, Nguyễn Khuyến dùng cụm từ “ta với ta” - “Bác đến chơi đây ta với ta” để diễn tả tình bạn tri kỉ, thắm thiết. Thì trong bài Qua đèo Ngang, cụm từ “ta với ta” càng bộc lộ thêm nỗi cô đơn của tác giả.
Qua Đèo Ngang gửi gắm nỗi lòng yêu quê hương, đất nước tha thiết của Bà Huyện Thanh Quan.
Trong nền văn học hiện đại nếu như chúng ta bắt gặp sự sắc sảo, mạnh mẽ, bứt phá trong thơ của Hồ Xuân Hương thì chắc hẳn rằng sẽ thấy được sự điềm tĩnh, nhẹ nhàng, trầm buồn của Bà Huyện Thanh Quan. Bài thơ “Qua đèo Ngang” tiêu biểu cho phong cách ấy.
Bài thơ được sáng tác khi tác giả vào Phú Xuân (Huế) nhận chức và đi qua đèo này. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi buồn man mác, nhớ nhà, nhớ quê hương và thương cho thân gái nơi đường xa. Bài thơ được sáng tác theo thể thất ngôn bát cú với cấu trúc đề, thực, luận kết.
Chỉ tám câu thơ nhưng nó đã diễn tả được hết cái thần thái, cái hồn của cảnh vật cũng như của con người khi đứng trước cảnh trời núi hiu quạnh và lòng người man mác như thế này. Hai câu đề gợi lên trước mắt người đọc khung cảnh hoang sơ nơi đèo Ngang:
“Bước tới đèo Ngang bóng xế tàCỏ cây chen lá, lá chen hoa”
Không gian và thời gian ở đèo Ngang được tác giả thể hiện qua từ "bóng xế tà". Có thể nói đây là thời gian là cảm xúc trong lòng người dường như nặng nề, gợi buồn, gợi sầu hơn. Trong ca dao, dân ca, chúng ta vẫn bắt gặp thời điểm chiều tả để đặc tả nỗi buồn không biết bày tỏ cùng ai. Mặt trời xuống núi, hoàng hôn sắp bao phủ lấy nơi này.
Cảm giác cô đơn, lạc lõng. Cảnh vật thiên nhiên nơi đây dường như quạnh quẽ đến nao lòng. Chỉ có cỏ cây và hoa. Điệp từ "chen" dường như đã làm tăng thêm tính chất hiu quạnh của địa danh này. Hoa lá đang quấn quýt lấy nhau, bám chặt nhau để sống, sinh sôi.
“Lom khom dưới núi tiều vài chúLác đác bên sông chợ mấy nhà”
Đến hai câu thực thì mới thấp thoáng hình ảnh con người, nhưng cũng chỉ là "tiều vài chú". Hóa ra chỉ là một vài chú tiều bé nhỏ đi nhặt củi ở dưới chân núi. Mặc dù có sự sống nhưng mong manh và hư vô quá. Với phép đảo trật tự cú pháp ở hai câu thơ này, Bà Huyện Thanh Quan đã một lần nữa nhấn mạnh sự hoang sơ, hiu quạnh của đèo Ngang.
Việc sử dụng hai từ láy "lom khom" và "lác đác" vừa chỉ hoạt động gánh củi vất vả vừa chỉ ước tính số lượng cụ thể. Những hình ảnh ước lệ trong thơ Bà Huyện Thanh Quan đã lột tả hết thần thái cũng như cảm xúc của tác giả lúc đó. Những sự sống hiếm hoi, lẻ loi và mong manh đang chờn vờn ở ngay trước mắt nhưng xa lắm. Muốn tìm bạn để tâm sự cũng trở nên khó khăn. Sang đến hai câu thơ luận thì cảm xúc và tâm sự của tác giả bỗng nhiên trỗi dậy
“Nhớ nước đau lòng con quốc quốcThương nhà mỏi miệng cái gia gia”
Điệp âm "con quốc quốc" và "cái gia gia" đã tạo nên âm hưởng dìu dặt, du dương nhưng vô cùng não nề thấm đến tâm can. Người lữ khách đường xa nghe văng vẳng tiếng cuốc và da da kêu mà lòng quạnh hiu, buồn tái tê. Thủ pháp lấy động tả tĩnh của tác giả thật đắc điệu, trên cái nền tĩnh lặng, quạnh quẽ bỗng nhiên có tiếng chim kêu thực sự càng thêm não nề và thê lương.
“Dừng chân nghỉ lại trời non nướcMột mảnh tình riêng ta với ta”
Chỉ bốn chữ "dừng chân nghỉ lại" cũng đã khiến người đọc cảm thấy da diết, bồn chồn đến não nề. Cảnh trời nước mênh mông, vô tận nhưng con người thì bé nhỏ khiến cho tác giả thấy mình lạc lõng và không một nơi bấu víu. Đất trời rộng lớn, tác giả chỉ cảm thấy còn "một mảnh tình riêng". Và cái mảnh tình con con ấy cũng chỉ có "ta với ta". Nỗi buồn dường như trở nên cực độ, buồn thấu tận tâm can, buồn nghiêng ngả trời đất.
Bài thơ “Qua Đèo Ngang” với giọng điệu da diết, trầm bổng, du dương và những thủ pháp nghệ thuật độc đáo đã mang đến cho người đọc cảm xúc khó quên. Dư âm của bài thơ dường như còn vang vọng đâu đây.
“Có nơi đâu đẹp tuyệt vờiNhư sông như núi, như người Việt Nam”
Câu thơ thể hiện niềm kiêu hãnh, tự hào về non sông đất trời Việt Nam. Thiên nhiên trên quê hương ta có vẻ đẹp mộng mơ, chan hòa sức sống. Chính vì vậy, thiên nhiên luôn là đề tài bất tận của thi ca. Lúc thì lung linh, huyền diệu như trong mộng, lúc lại rực rỡ, kiêu sa tựa ánh mặt trời. Bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan là một trong số đó.
“Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.Lom khom dưới núi, tiều vài chú,Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.Nhớ nước, đau lòng, con quốc quốc,Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,Một mảnh tình riêng, ta với ta.”
Câu thơ mở đầu gợi mở về không gian, thời gian. Cụm từ “bóng xế tà” gợi ra thời điểm chiều tà đã bao trùm lên không gian đèo Ngang. Tiếp đến nhà thơ sử dụng điệp từ “chen” cùng cách gieo vần lưng “lá, đá” đã tạo nên sự cô đơn, tĩnh mịch. Từ tà như diễn tả một khái niệm sắp tàn lụa, biến mất. Yếu tố thời gian làm cho câu thơ thêm phần buồn bã. Ca dao cũng đã có câu:
“Vẳng nghe chim vịt kêu chiềuBâng khuâng nhớ mẹ, chín chiều ruột đau”
Thế mới biết, những tình cảm cao quý của mỗi người dường như gặp nhau ở một điểm. Đó chính là thời gian. Mà quãng thời gian thích hợp nhất để bộc lộ sự nhớ nhung khắc khoải chính là lúc chiều về. Ở bài thơ “Qua đèo Ngang”, tác giả bỗng dâng lên cảm xúc man mác khi bà bắt gặp ánh hoàng hôn bao phủ cảnh vật.
Không chỉ là thiên nhiên, mà con người cũng xuất hiện trong bức tranh nơi đèo Ngang:
“Lom khom dưới núi tiều vài chúLác đác bên sông, chợ mấy nhà”
Câu thơ gợi cho tả hình dung trong ánh hoàng hôn lạnh lẽo, mấy người tiều phu đang đốn củi, mấy quán chợ xiêu xiêu trong gió. Đảo ngữ đưa hai từ láy lom khom, lác đác lên đầu câu đã được tác giả sử dụng như nhấn mạnh thêm sự u hoài ở đây. Nhà thơ đi tìm một sự sống nhưng sự sống đó lại làm cho cảnh vật héo hắt, buồn bã hơn, xa vắng hơn.
Sự đối lập vốn có của hai câu thực khiến cho cảnh trên sông, dưới núi thêm rời rạc, thưa thớt. Từ “vài, mấy” như càng nói rõ thêm sự vắng vẻ ở nơi này. Trong sự hiu quạnh đó, bỗng nhiên vẳng lên tiếng kêu đều đều, man mác của loài chim quốc quốc, chim gia gia trong bóng hoàng hôn đang buông xuống.
Từ ghép “đau lòng, mỏi miệng” khiến cho ta có cảm giác tha thiết, ray rứt. Từ “nhớ nước, thương nhà” là nỗi niềm của con chim quốc, chim gia gia do tác giả cảm nhận được hay chính là nghệ thuật ẩn dụ để nói lên tâm sự từ trong sâu thẳm tâm hồn của nữ sĩ? Nghệ thuật chơi chữ quốc quốc gia giá phải chăng là Tổ quốc và gia đình của Bà Huyện Thanh Quan hồi đó?
Sự song song về ý, về lời của hai câu thơ trong phần luận của bài thơ này nhằm nhấn mạnh tình cảm của bà Huyện Thanh Quan đối với Tổ quốc, gia đình trước cảnh thật là khéo léo và tài tình. Từ thực tại của xã hội đương đời mà bà đang sống cho đến cảnh thực của đèo Ngang đã khiến cho tác giả sực nhớ đến mình và tâm sự:
“Dừng chân đứng lại trời non nướcMột mảnh tình riêng ta với ta.”
Câu kết của bài, ta cảm thấy nhà thơ có tâm sự u hoài về quá khứ. Dừng lại và quan sát bà chỉ thấy: trời, non, nước. Vũ trụ thật rộng lớn, xung quanh bà là cả một bầu trời với núi, với sông khiến cho con người cảm thấy mình bé nhỏ lại, đơn độc, trống vắng, ở đây, chỉ có một mình bà ta với ta, lại thêm mảnh tình riêng cho nước, cho nhà trong huyết quản đã làm cho cõi lòng nhà thơ như tê tái.
Bài thơ “Qua Đèo Ngang” đã khắc họa khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng sự sống con người nhưng vẫn còn hoang sơ. Đồng thời thể hiện nỗi nhớ nước thương nhà.
Xem thêm:
Qua Đèo Ngang là một tác phẩm tiêu biểu của Bà Huyện Thanh Quan. Bài thơ gửi gắm tấm lòng yêu nước sâu nặng của nhà thơ.
Mở đầu, tác giả gợi mở về thời gian, không gian cũng như điểm nhìn của bài thơ. Hai từ “bước tới” gợi đến một sự ngạc nhiên khi nhìn thấy hay tiếp cận con đèo. Đó cũng là thời khắc “bóng xế tà” khi ngày đã sắp tàn và màn đêm đang dần buông xuống. Đứng trước đèo Ngang với rừng núi hoang vu xa lạ, những xúc cảm của lòng người đã trào dâng. Tiếng “tà” với âm bằng xuất hiện trong văn cảnh tạo nên giai điệu buồn thương man mác, trở thành “vần” của ý thơ:
“Bước tới đèo Ngang bóng xế tàCỏ cây chen đá, lá chen hoa”
Khung cảnh thiên nhiên hiện lên với sức sống mãnh liệt. Điệp từ “chen”, kết hợp với việc sử dụng vần lưng “đá - lá”, lại vừa sử dụng vần chân “tà - hoa” đã làm cho nhạc điệu thơ du dương và réo rắt. Cảnh đèo hiện lên thật hoang vu và có chút cằn cỗi.
Không chỉ thiên nhiên, con người cũng đã xuất hiện trong bức tranh đó:
“Lom khom dưới núi tiều vài chúLác đác bên sông chợ mấy nhà”
Cách sử dụng từ láy “lom khom” và “lác đác” kết hợp với nghệ thuật đảo ngữ nhấn mạnh vào sự nhỏ bé, thưa thớt của con người.
Ngoại cảnh đã hòa hợp với râm cảnh người nữ sĩ trong buổi chiều tà nơi đèo hút hút gió. Nữ sĩ đã sử dụng bút pháp miêu tả tượng trưng và ước lệ của thi pháp cổ (ngư, tiều, canh, mục) kết hợp với cảm hứng đầy thi cảm và sáng tạo.
“Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốcThương nhà mỏi miệng cái gia gia”
Nghệ thuật đối và đảo ngữ được sử dụng ở phần thực đã tiếp tục được phát huy tác dụng một cách triệt để ở phần luận. Đó là tiếng chim cuốc, chim đa trong bóng chiều tà. Đó là “nhớ nước đau lòng” và “thương nhà mỏi miệng” đã được đặt trong thế đăng đối và hòa hợp. Ý thơ đã thể hiện người nữ sĩ lấy ngoại cảnh để phô diễn tâm tình. Đây cũng là một nét đặc sắc và nổi bật trong phong cách sáng tác của bà huyện Thanh Quan. Thơ tả cảnh ngụ tình nên nhạc, nên họa đã diễn tả cảnh đèo Ngang lúc hoàng hôn với nỗi niềm thi sĩ làm ta cảm thương, vương vấn.
“Dừng chân đứng lại: trời, non, nướcMột mảnh tình riêng ta với ta”
Hai câu thơ kết cuối bài như dồn lại biết bao nhớ thương sâu lắng và dạt dào của người nữ sĩ trong khung cảnh chiều tà. Đứng một mình nơi đèo cao lộng gió trong buổi hoàng hôn, nữ sĩ thấy mình như sống trong tâm trạng lẻ bóng, cô đơn, giữa một khung cảnh thiên nhiên hoang vắng bao la của “trời, non, nước”.
Hai chữ “đứng lại” diễn tả một tư thế, một tâm trạng xúc động và bồi hồi. “Ta với ta” là ba chữ đắt giá kết hợp với điệp ngữ láy âm, đặt trong mối tương phản với “trời, non, nước” đã cho thấy cái mênh mang bao la với sự lẻ loi, đơn côi và nhỏ bé của lòng người. Nó gợi lên một sự trống vắng không thể nào kể xiết.
"Qua Đèo Ngang" là bài thơ Nôm kiệt tác được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Bài thơ đã cho thấy phong cách sáng tác của Bà Huyện Thanh Quan.
Trong dòng chảy thi ca cổ điển Việt Nam, Bà Huyện Thanh Quan hiện lên như một khối rubik của nỗi buồn hoài cổ. "Qua Đèo Ngang" không chỉ đơn thuần là một bài thơ vịnh cảnh lữ thứ, mà là một cấu trúc nghệ thuật hoàn mỹ về sự vận động của không gian tâm tưởng. Để hiểu hết cái hay của bài thơ, ta phải đặt nó vào hệ quy chiếu của thi pháp Đường luật, nơi không gian không chỉ là địa lý mà là sự phản chiếu của linh hồn.
Mở đầu bằng câu đề: "Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà". Câu thơ xác lập một vị thế: vị thế của người lữ khách đang đứng trước một ngưỡng cửa thiên nhiên. "Bóng xế tà" không chỉ là mốc thời gian hoàng hôn mà là một tín hiệu thẩm mỹ. Trong thơ cổ, hoàng hôn là thời khắc vạn vật tìm về tổ ấm, nhưng với người đi xa, đó là lúc nỗi cô đơn trỗi dậy mạnh mẽ nhất. Đèo Ngang hiện ra không phải trong ánh bình minh rạng rỡ mà trong bóng chiều nhập nhẹm, gợi sự tàn tạ và mỏi mệt. Câu thứ hai: "Cỏ cây chen đá, lá chen hoa" mở rộng không gian theo chiều ngang. Điệp từ "chen" vẽ nên một bức tranh thiên nhiên rậm rạp, hoang sơ. Sự giao tranh giữa "cỏ cây", "đá", "lá", "hoa" cho thấy một sức sống nội tại mãnh liệt của núi rừng nhưng lại thiếu vắng bàn tay quy hoạch của con người. Thiên nhiên ở đây vây hãm, lấn lướt, tạo nên cảm giác rợn ngợp đối với một nữ sĩ vốn quen với vẻ đài các, chỉnh chu chốn kinh kỳ Thăng Long.
Tiếp đến hai câu thực, không gian bắt đầu có sự xuất hiện của sự sống con người, nhưng lại là sự xuất hiện đầy thưa thớt: "Lom khom dưới núi tiều vài chú / Lác đác bên sông chợ mấy nhà". Nghệ thuật đảo ngữ kết hợp với các từ láy tượng hình "lom khom", "lác đác" đã tạo nên một hiệu ứng thị giác đặc biệt. Những "chú tiều" và "nhà chợ" hiện lên như những nét chấm phá yếu ớt, lọt thỏm giữa không gian núi non trùng điệp. Con người không làm chủ không gian mà bị không gian nuốt chửng. Sự nhỏ bé ấy càng tô đậm thêm vẻ hoang vu, quạnh quẽ của vùng biên ải. Đứng từ đỉnh đèo nhìn xuống, khoảng cách địa lý xa xôi làm cho mọi thứ trở nên mờ ảo, nhỏ bé, gợi sự xa cách giữa con người với con người.
Đỉnh cao của sự vận động không gian nằm ở hai câu luận: "Nhớ nước đau lòng con quốc quốc / Thương nhà mỏi miệng cái gia gia". Ở đây, không gian địa lý đã chuyển hóa thành không gian tâm tưởng. Tiếng chim "quốc quốc" và "gia gia" vang vọng giữa thung lũng không chỉ là âm thanh thực mà là tiếng lòng đang nức nở. Sự chơi chữ đồng âm (quốc - nước, gia - nhà) cho thấy một nỗi đau chồng chéo: nỗi đau mất nước (hoài niệm triều đại cũ) và nỗi đau xa nhà. Tiếng chim như một sợi dây vô hình nối liền hiện tại cô độc với quá khứ vàng son và mái ấm phương xa. Không gian lúc này không còn là Đèo Ngang nữa, mà là một khoảng không mênh mông của nỗi nhớ.
Cuối cùng, không gian co thắt lại trong câu kết: "Dừng chân đứng lại, trời non nước / Một mảnh tình riêng, ta với ta". Câu thơ tạo ra một sự đối lập gay gắt giữa cái vô tận của "trời, non, nước" và cái hữu hạn của "một mảnh tình riêng". Con người dừng chân, đối mặt với sự vĩ đại của vũ trụ để rồi nhận ra mình chỉ còn lại một mình. Cụm từ "ta với ta" kết thúc bài thơ như một nốt lặng tuyệt đối. Nó không phải là sự hòa hợp mà là sự tự phân thân, con người tự đối diện với bóng lẻ của chính mình. Toàn bộ bài thơ là một hành trình đi từ không gian rộng lớn của thiên nhiên vào không gian cực tiểu của trái tim, để rồi để lại một dư ba về sự cô đơn vĩnh cửu của kiếp người trước tạo hóa.
Trong thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, hai câu luận (câu 5 và 6) luôn là nơi chứa đựng sức nặng về tư tưởng và nghệ thuật của toàn bài. Ở "Qua Đèo Ngang", Bà Huyện Thanh Quan đã thể hiện một trình độ uyên bác bậc thầy khi kết hợp nhuần nhuyễn giữa âm thanh thực tại và các điển tích văn hóa cổ phương Đông để bộc lộ nỗi niềm ký thác.
Hai câu thơ: "Nhớ nước đau lòng con quốc quốc / Thương nhà mỏi miệng cái gia gia" là một cấu trúc đối xứng hoàn hảo về cả thanh, luật và ý. Tác giả mượn hình ảnh hai loài chim quen thuộc trong văn học cổ là chim cuốc và chim đa đa. Theo điển tích Trung Hoa, chim cuốc chính là hóa thân của vua Thục Đế (Đỗ Vũ) sau khi mất nước, hồn biến thành chim kêu "cuốc cuốc" đến héo hon, đau đớn. Việc sử dụng hình ảnh "con quốc quốc" ở đây không chỉ là tả âm thanh rừng núi mà là một ẩn dụ chính trị sâu sắc. Đối với một nữ sĩ mang nặng tư tưởng hoài Lê như Bà Huyện Thanh Quan, tiếng chim quốc chính là tiếng lòng tiếc thương cho một vương triều đã lùi vào dĩ vãng, một sự "nhớ nước" đầy u uẩn của một người con luôn hướng về cố đô Thăng Long.
Song hành với "quốc quốc" là "gia gia" – âm thanh của chim đa đa. Trong văn hóa cổ, chim đa đa thường được gắn với nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương (như câu ca: "Chiều chiều ra đứng ngõ sau / Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều"). Cách chơi chữ đồng âm giữa tiếng chim (gia gia) và nghĩa hán việt (gia là nhà) tạo nên một sự cộng hưởng cảm xúc. Người lữ khách đứng giữa đèo vắng, nghe tiếng chim gọi "nhà nhà" mà lòng thêm "mỏi miệng", thêm xót xa vì thực tại mình đang rời xa mái ấm. Sự kết hợp giữa "nhớ nước" và "thương nhà" cho thấy hai nỗi niềm lớn nhất trong tâm hồn con người thời bấy giờ: tình yêu tổ quốc (dưới góc độ hoài cổ) và tình cảm gia đình gắn bó.
Nghệ thuật đối lập trong hai câu thơ này còn nằm ở từ ngữ chỉ trạng thái: "đau lòng" đối với "mỏi miệng". Một cái là nỗi đau âm thầm từ bên trong tâm can, một cái là sự mệt mỏi, rã rời từ những tiếng gọi vô vọng bên ngoài. Tiếng chim kêu râm ran nhưng không làm cho cảnh vật sống động hơn, mà trái lại, nó càng làm tăng thêm cái tĩnh mịch, u tịch của núi rừng. Âm thanh ấy như xát muối vào lòng người lữ khách, biến không gian Đèo Ngang thành một không gian đầy rẫy những ám ảnh về sự mất mát.
Bà Huyện Thanh Quan đã đạt đến đỉnh cao của việc sử dụng ngôn ngữ khi biến những âm thanh tự nhiên vô tri thành tiếng nói của linh hồn. Qua hai câu luận, người đọc không chỉ thấy một danh sĩ điêu luyện về kỹ thuật thơ ca mà còn thấy một trái tim đa sầu đa cảm, một người trí thức luôn trăn trở về thời cuộc và thân phận. Chính sự thâm thúy trong việc vận dụng điển tích đã nâng tầm "Qua Đèo Ngang" vượt khỏi một bài thơ vịnh cảnh thông thường để trở thành một khúc ca hoài niệm mang tầm vóc lịch sử.
Văn học trung đại Việt Nam thường lấy thiên nhiên làm chuẩn mực thẩm mỹ, con người thường hòa tan mình vào "đại ngã" vũ trụ. Tuy nhiên, trong "Qua Đèo Ngang", Bà Huyện Thanh Quan đã khẳng định một "cái tôi" cá nhân đầy đơn lẻ và tách biệt. Câu thơ cuối cùng của bài thơ: "Một mảnh tình riêng, ta với ta" là một trong những câu thơ chứa đựng triết lý nhân sinh sâu sắc nhất, thể hiện sự xung đột giữa con người nhỏ bé và thế giới vĩnh hằng.
Sự xung đột này bắt đầu từ câu thơ thứ bảy: "Dừng chân đứng lại, trời non nước". "Dừng chân" là một hành động mang tính chất chiêm nghiệm. Sau một hành trình leo đèo mệt mỏi, người lữ khách đứng lại để nhìn bao quát. Phía trước mắt là "trời", "non", "nước" – ba thực thể tượng trưng cho sự vĩ đại, vĩnh hằng và vô tận của thiên nhiên. Sự kết hợp ba danh từ này mở ra một không gian đa chiều, hùng vĩ đến rợn ngợp. Trong cái mênh mông ấy, con người bỗng chốc nhận ra sự hiện hữu của mình chỉ là một chấm nhỏ đơn côi.
Và rồi, câu kết bùng nổ như một lời tự vấn: "Một mảnh tình riêng, ta với ta". Chữ "mảnh" là một sự lựa chọn ngôn ngữ cực kỳ tinh tế. Nó không phải là "khối tình", "mối tình" mà là "mảnh" – gợi sự vỡ vụn, nhỏ bé, không trọn vẹn. "Tình riêng" là những nỗi niềm cá nhân, là nỗi nhớ nước, thương nhà, là sự cô đơn mà không ai có thể thấu hiểu. Sự đối lập giữa cái mênh mông của "trời non nước" và cái nhỏ bé của "mảnh tình riêng" tạo nên một sức căng tâm lý mạnh mẽ. Con người đứng giữa vũ trụ nhưng lại thấy mình bơ vơ nhất, bởi thiên nhiên dù đẹp nhưng vô tình, vô cảm, không thể sẻ chia nỗi lòng với con người.
Cụm từ "ta với ta" kết thúc bài thơ mang một hàm nghĩa đặc biệt. Nó không giống như cái "ta với ta" trong thơ Nguyễn Khuyến ("Bác đến chơi đây ta với ta") – vốn là sự hòa hợp tri kỷ giữa hai tâm hồn. Ở Bà Huyện Thanh Quan, "ta với ta" là sự khép kín hoàn toàn. "Ta" thứ nhất là bản thể đang đau đớn, "ta" thứ hai là cái bóng đang chứng kiến nỗi đau đó. Con người chỉ còn biết tìm đến chính mình để tự an ủi, tự vỗ về. Đó là đỉnh cao của nỗi cô đơn lữ thứ.
Triết lý ở đây là gì? Đó là sự khẳng định về sự cô độc vĩnh cửu của con người trước thời gian và không gian. Dù cho thế giới có rộng lớn bao nhiêu, dù thiên nhiên có hùng vĩ thế nào, con người vẫn phải tự gánh vác lấy nỗi đau của riêng mình. Bà Huyện Thanh Quan đã tạc dựng một bức chân dung về người phụ nữ tri thức xưa: cô đơn nhưng đầy tự trọng, nhỏ bé nhưng mang trong mình một thế giới tâm hồn mênh mông. Câu thơ cuối không chỉ kết thúc một bài thơ mà mở ra một khoảng trống mênh mông trong lòng độc giả về kiếp nhân sinh.
Xem thêm:
Thơ là họa, họa là thơ. "Qua Đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan là minh chứng rực rỡ cho bút pháp tả cảnh ngụ tình – một đặc trưng cốt lõi của thi pháp văn học trung đại. Bài thơ không miêu tả cảnh vật một cách khách quan mà mỗi đường nét thiên nhiên đều được nhuộm màu bởi tâm trạng người lữ khách.
Bốn câu thơ đầu thiết lập một bức tranh thủy mặc với những nét vẽ tinh tế nhưng đượm buồn. Câu mở đầu xác định phông nền thời gian: "Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà". Ánh sáng hoàng hôn le lói tạo ra những mảng tối mảng sáng nhập nhẹm, gợi sự bất an. Câu thứ hai: "Cỏ cây chen đá, lá chen hoa" là một nét vẽ đầy sức sống hoang dại. Việc lặp lại từ "chen" gợi sự lấn lướt, chồng chéo. Thiên nhiên Đèo Ngang hiện lên không có sự thanh thoát mà mang vẻ rậm rạp, um tùm. Đây là cái nhìn của một người từ chốn phồn hoa đô hội, nhìn thiên nhiên hoang sơ không thấy đẹp mà thấy rợn ngợp, thấy cái "nguyên tử" của núi rừng đang bủa vây lấy mình.
Nét vẽ con người ở câu 3 và 4 chính là điểm nhấn làm nổi bật cái tĩnh lặng của bức tranh: "Lom khom dưới núi tiều vài chú / Lác đác bên sông chợ mấy nhà". Tác giả sử dụng nghệ thuật đảo ngữ rất điêu luyện. "Lom khom" và "lác đác" là những từ láy tượng hình được đưa lên đầu câu để nhấn mạnh trạng thái. Hình ảnh những chú tiều "lom khom" gợi sự nhẫn nại, vất vả của cuộc sống mưu sinh. Những ngôi nhà chợ "lác đác" bên sông gợi sự thưa thớt, quạnh quẽ. Sự xuất hiện của con người không làm cho cảnh vật bớt vắng vẻ mà ngược lại, sự nhỏ bé của họ càng tôn thêm cái hùng vĩ, bao la của núi non. Nghệ thuật "lấy ít gợi nhiều", "lấy động tả tĩnh" ở đây đã đạt đến độ chín muồi.
Điểm đặc biệt trong bút pháp của Bà Huyện Thanh Quan là sự phối màu và dựng cảnh. Màu sắc không rực rỡ mà trầm buồn: màu xám của đá, màu xanh thẫm của cỏ cây trong bóng chiều, màu mờ ảo của khói sóng bên sông. Không gian được xây dựng theo trục dọc (dưới núi) và trục ngang (bên sông), tạo ra một cái nhìn toàn cảnh nhưng đượm buồn.
Tất cả cảnh vật ấy thực chất chỉ là cái nền để nhà thơ bộc lộ nỗi niềm lữ thứ. Cảnh vật càng hoang vu, lòng người càng thấy cô đơn. Cảnh vật càng thưa thớt, nỗi nhớ nhà càng đậm nét. Bà Huyện Thanh Quan đã không trực tiếp nói "tôi buồn", bà để cho "bóng xế tà", cho "tiều vài chú", cho "chợ mấy nhà" nói thay nỗi lòng mình. Đó chính là đỉnh cao của nghệ thuật ngụ tình, khiến cho bức tranh Đèo Ngang trở thành một bức tranh tâm cảnh, trường tồn mãi với thời gian.
Để hiểu sâu sắc bài thơ "Qua Đèo Ngang", ta không thể tách rời tác phẩm khỏi bối cảnh lịch sử và thân phận của tác giả. Bà Huyện Thanh Quan là một người phụ nữ tri thức lớn lên trong sự chuyển giao giữa hai vương triều Lê và Nguyễn. Tâm thế của một "di thần" (người của triều đại cũ) luôn đau đáu nhớ về Thăng Long xưa đã thấm đẫm vào từng câu chữ của bài thơ này.
Đèo Ngang trong lịch sử là một ranh giới quan trọng. Khi "bước tới" đây, nhà thơ không chỉ bước qua một ngọn đèo địa lý mà còn bước qua một ranh giới tâm tưởng. Cảnh vật Đèo Ngang với sự hoang sơ "Cỏ cây chen đá, lá chen hoa" gợi lên một sự suy tàn, một thế giới mà bàn tay chăm sóc của con người (đại diện cho văn minh và trật tự triều đại cũ) đã mờ nhạt. Ánh "bóng xế tà" phủ lên cảnh vật một màu hoài cổ, gợi về một thời hoàng kim đã đi vào bóng tối của lịch sử.
Tâm sự "nhớ nước" trong câu luận: "Nhớ nước đau lòng con quốc quốc" mang một hàm ý chính trị kín đáo nhưng sâu sắc. "Nước" ở đây không chỉ là tổ quốc nói chung mà là hình ảnh của Thăng Long, của nhà Lê mà nữ sĩ hằng tôn thờ. Tiếng chim quốc gọi tên đất nước chính là tiếng khóc cho một vương triều đã sụp đổ. Đứng trước vùng đất miền Trung xa lạ (địa bàn của nhà Nguyễn), nỗi nhớ về quê hương xứ Bắc càng trở nên mãnh liệt. Nỗi "thương nhà" hòa quyện cùng "nhớ nước", tạo nên một bi kịch của người trí thức sống giữa sự thay đổi của thời đại: trung thành với giá trị cũ nhưng phải phục vụ cho triều đại mới.
Câu kết "Một mảnh tình riêng, ta với ta" là lời khẳng định về sự kiên định của nhân cách. Giữa một thế giới "trời non nước" bao la nhưng xa lạ, nhà thơ chọn cách giữ lại cho mình "một mảnh tình riêng" – đó là sự trung trinh với quá khứ, là niềm đau không thể sẻ chia cùng ai ở thực tại. Cụm từ "ta với ta" cho thấy một sự cô đơn mang tính chính trị và văn hóa. Nữ sĩ thấy mình lạc lõng giữa những người mới, cảnh mới, và bà chỉ có thể tìm thấy sự đồng điệu ở chính linh hồn mình.
"Qua Đèo Ngang" vì thế không chỉ là một bài thơ lữ thứ. Nó là tiếng lòng của một thế hệ trí thức cũ đang phải đối mặt với sự xoay vần của lịch sử. Bài thơ mang vẻ đẹp trang trọng, đài các nhưng ẩn chứa bên trong là nỗi đau xót khôn nguôi. Qua bút pháp Đường luật điêu luyện, Bà Huyện Thanh Quan đã biến nỗi đau cá nhân thành một biểu tượng của lòng trung nghĩa và sự nhạy cảm trước thời gian. Đây chính là giá trị khiến bài thơ có sức sống lâu bền trong lòng độc giả qua nhiều thế kỷ.
Một trong những tác phẩm tiêu biểu của Bà Huyện Thanh Quan là “Qua Đèo Ngang”. Với bài thơ này, tác giả đã gửi gắm tình yêu quê hương đất nước sâu sắc.
"Qua đèo ngang" gợi lên sự điềm tĩnh, nhẹ nhàng, trầm buồn của bà Huyện Thanh Quan làm tiêu biểu cho phong cách thơ. Bài thơ "Qua đèo ngang" được tác giả sáng tác trong hoàn cảnh vào Phú Xuân(Huế) nhận chức và đi ngang qua đèo này. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi buồn man mác, nhớ nhà, quê hương, thương cho thân người con gái yếu đuối đường xa. Bài thơ được sáng tác theo thể thất ngôn bát cú. Với tám câu thơ mà đã thấy được những thần thái, cái hồn trong cảnh vật và con người trước cảnh núi rừng hiu quạnh.
“Bước tới Đèo Ngang bóng xế tàCỏ cây chen lá, đá chen hoa”
Hai câu đề hiện rõ khung cảnh rừng núi hoang sơ lúc "bóng xế tà". Một cảnh chiều nặng nề làm cho lòng người trở nên u buồn, gợn sầu hơn. Tất cả như gợi lên nỗi nhớ muốn tỏ rõ nỗi lòng mà không ai bầu bạn, sẻ chia. Chỉ có "cây cỏ chen lá, đá chen hoa" hiu quạnh. Điệp từ "chen" khẳng định sức sống mạnh mẽ của cỏ, cây, bấu víu để sinh sôi nảy nở.
“Lom khom dưới núi tiều vài chúLác đác bên sông chợ mấy nhà”
Đến hai câu thơ tiếp theo thì mới thấy bóng dáng của con người. Hai từ láy “lom khom”, “lác đác” cho thấy sự thưa thớt, vắng vẻ của con người. Trong bức tranh thiên nhiên này, con người chỉ là một điều nhỏ bé.
Tiếp đến, Bà Huyện Thanh Quan đã bộc lộ tâm trạng của mình khi đứng trước đèo Ngang:
“Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốcThương nhà mỏi miệng cái gia gia”
Giữa chốn rừng sâu vắng lặng, vang lên tiếng chim cuốc đau lòng não ruột. Đó cũng có thể là thanh âm thật là hay là tiếng lòng trong tâm trạng nhà thơ. Mượn bút pháp ước lệ và nghệ thuật chơi chữ để nói lên tiếng lòng mình trước cảnh. Tiếng chim kêu làm tăng phần cô quạnh, phải chăng đó là tâm trạng hoài vọng nhớ thương nước nhà?
Cái bao la, vô tận của non nước làm chơi vơi bóng hình một mình giữa thiên nhiên, hồn cảnh - hồn người như hòa lẫn vào nhau, làm nỗi buồn da diết bị lắng đọng cùng.
“Dừng chân đứng lại trời non nướcMột mảnh tình riêng ta với ta”
Tiếng lòng non nước thấm thía, không san sẻ buộc nhà thơ thốt lên giãi bày "ta với ta" nghe chua xót. Chỉ ta mới hiểu được lòng ta, sự cô đơn như tăng lên gấp bội. Dù sầu muội như bà Huyện Thanh Quan vẫn cảm nhận được vẻ đẹp non nước dù nơi dừng chân có vẻ hoang sơ, nhưng đã tô lên vẻ đẹp hùng vĩ, bao la của núi rừng.
Bài thơ "Qua Đèo Ngang" vừa gợi lên một bức tranh về cảnh đẹp thiên nhiên núi rừng hoang sơ, hùng vĩ, vừa gợi ra khung cảnh sống giản dị, đơn sơ mà ấm áp. Từ đó mang lại những cảm xúc, nỗi niềm, riêng tư của tác giả với tình yêu quê hương, đất nước da diết khi xa quê hương, lẻ loi một bóng hình nơi đất khách quê người.
Bà Huyện Thanh Quan là một nữ thi sĩ nổi tiếng trong nền văn học trung đại của nước ta. “Qua Đèo Ngang” là một tác phẩm rất tiêu biểu cho phong cách thơ của bà. Bài thơ đã khắc họa khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng sự sống con người nhưng vẫn còn hoang sơ. Đồng thời nhà thơ còn qua đó gửi gắm nỗi nhớ nước thương nhà.
Tác giả đã khắc họa khung cảnh thiên nhiên nơi Đèo Ngang trong một buổi chiều tà:
“Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”
Cụm từ “bóng xế tà” gợi ra thời điểm kết thúc của một ngày. Nhà thơ đang một mình đứng trước nơi đèo Ngang. Tiếp đến câu thơ “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa” là hình ảnh ước lệ mang tính biểu tượng, khắc họa khung cảnh thiên nhiên đèo Ngang. Việc sử dụng điệp từ “chen” kết hợp với hình ảnh “đá, lá, hoa” thật tinh tế. Vẻ đẹp thiên nhiên của đèo Ngang tuy hoang sơ nhưng lại tràn đầy sức sống. Khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang được nhà thơ khắc họa chỉ bằng vài nét nhưng lại hiện ra đầy chân thực và sinh động.
Và không thể thiếu trong bức tranh thiên nhiên đó là hình ảnh con người. Nghệ thuật đảo ngữ “lom khom - tiều vài chú” cho thấy hình ảnh vài chú tiều với dáng đứng lom khom dưới chân núi. Và “lác đác - chợ mấy nhà” gợi ra hình ảnh vài căn nhà nhỏ bé thưa thớt, lác đác bên sông. Nhà thơ muốn nhấn mạnh vào sự nhỏ bé của con người trước thiên nhiên rộng lớn. Con người chỉ nằm là một chấm buồn lặng lẽ giữa một thiên nhiên rộng lớn. Thiên nhiên mới là trung tâm trong bức tranh đèo Ngang.
Thiên nhiên càng cô quạnh, tâm trạng của tác giả càng cô đơn. Điều đó được bộc lộ ở những câu thơ tiếp theo:
“Nhớ nước, đau lòng, con quốc quốcThương nhà mỏi miệng, cái gia gia”
Hình ảnh “con quốc quốc” và “cái gia gia” không chỉ là hình ảnh thực về hai loại chim (chim đỗ quyên, chim đa đa). Việc sử dụng thủ pháp lấy động tả tĩnh: tiếng kêu “quốc quốc”, “đa đa” để qua đó bộc lộ nỗi lòng nhớ thương của mình với đất nước, quê hương. Đọc đến đây, chúng ta dường như có thể lắng nghe được tiếng kêu khắc khoải, da diết đang vang lên trong vô vọng.
Câu thơ “Dừng chân đứng lại, trời, non, nước” khắc họa hình ảnh nhà thơ một mình đứng tại nơi Đèo Ngang, đưa mắt nhìn ra xa cũng chỉ thấy thiên nhiên rộng lớn phía trước (có bầu trời, có núi non, dòng sông). Sự cô đơn của nhà thơ: “một mảnh tình riêng” - tình cảm riêng tư của nhà thơ không có ai để chia sẻ:
“Dừng chân đứng lại trời, non, nướcMột mảnh tình riêng, ta với ta"
Trong thơ Nguyễn Khuyến cũng từng sử dụng cụm từ “ta với ta”:
“Đầu trò tiếp khách trầu không cóBác đến chơi đây ta với ta”
Trong “Bạn đến chơi nhà, từ “ta” đầu tiên chỉ chính nhà thơ - chủ nhà, còn từ “ta” thứ hai chỉ người bạn - khách đến chơi. Từ “với” thể hiện mối quan hệ song hành, gắn bó dường như không còn khoảng cách. Qua đó thể hiện tình bạn gắn bó tri âm tri kỷ của nhà thơ. Còn trong thơ Bà Huyện Thanh Quan, cụm từ “ta với ta” ở đây đều chỉ nhà thơ, lúc này bà chỉ có một mình đối diện với chính mình, cô đơn và lẻ loi. Sự cô đơn ấy dường như chẳng thể có ai cùng chia sẻ.
Như vậy, Qua đèo Ngang đã thể hiện được tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan trước khung cảnh đèo Ngang hoang sơ. Bài thơ chứa đựng những tình cảm, ý nghĩa sâu sắc.
Bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan được sáng tác khi bà đi ngang con đèo này để vào kinh thành Huế nhận chức làm quan. Bài thơ nói lên nỗi nhớ quê hương gia đình của người con gái đi xa, nỗi thương thân của phụ nữ nơi đất khách quê người. Lối thơ nhẹ nhàng điềm tĩnh của tác giả được thể hiện rõ qua bài thơ này.
“Trèo đèo hai mái chân vânLòng về Hà Tĩnh, dạ ân Quảng Bình”
Nằm giữa hai đầu nỗi nhớ, gánh trọn ân tình của nữ sĩ về bức tranh thiên nhiên hoang sơ đậm chất tình. Bà Huyện Thanh Quan dùng lối viết tự nhiên mà sâu lắng, hoài cảm đi vào lòng người. Trên con đường vào Phú Xuân, nữ sĩ bắt gặp phong cảnh đèo Ngang, từ đó khơi gợi nỗi buồn của người con gái đường xa chất chứa bao nỗi nhớ thương:
“Bước tới đèo Ngang, bóng xế tàCỏ cây chen lá, đá chen hoa”
Bức tranh vẽ ra vào buổi chiều tà, vào thời gian vắng vẻ và hoang vu trong ngày. Nếu được thay bằng “nắng tà” thì khung cảnh sẽ sinh động hơn. Một buổi chiều có nắng vàng, hoa lá và đá, vậy tại sao nữ sĩ lại không chọn nắng? Thời điểm chiều tà làm cho lòng người nôn nấu một nỗi hoài cổ, chất xúc tác làm tâm trạng con người cất thành tiếng.
Bức tranh thiên nhiên hoang sơ đượm màu buồn, liệu tâm hồn nữ sĩ có đủ mạnh mẽ vượt qua? Điệp từ “chen” nhấn mạnh sự đơn lẻ, cô liêu. Sự sống sắp lụi tàn, hoa lá cỏ cây đang cuống quýt, nồng say bám chặt lấy sự sinh tồn trên mảnh đất cằn cỗi.
“Lom khom dưới núi tiều vài chúLác đác bên sông chợ mấy nhà”
Bức tranh lúc này đã có sự xuất hiện của con người nhưng nó có thể làm mờ nhạt bớt phần nào trong sự trống vắng của tâm hồn người thứ lữ? ” Tiều vài chú” chỉ có một vài chú tiều đi gom củi phía dưới chân núi. Từ đó, làm tăng cường độ mỏng manh của sự sống. Nó hư vô, mờ ảo như thể sẽ biến mất. Tác giả đã dùng nghệ thuật phép đảo để thay đổi trật tự cú pháp ở hai câu này làm toát lên cảnh hắt hiu, hoang sơ của con đèo này.
Từ láy ”lom khom” chỉ hoạt động gồng gánh gian nan và “lác đác” nói lên mức độ số lượng được ước tính cụ thể. Những hình ảnh ước lệ ấy đã bộc lộ ra hết cảm xúc, muốn lắm, cần lắm được chạm đến sự sống và khao khát được nhìn thấy con người. Ôi chỉ là ảo ảnh! Nơi này, nữ sĩ biết tìm đâu người bạn đường để trò chuyện chia sẻ bao nỗi niềm.
“Nhớ nước đau lòng con quốc quốcThương nhà mỏi miệng cái gia gia”
Hai câu luận tiếp theo làm trỗi dậy nỗi niềm tiềm ẩn của người thứ lữ. ”Con quốc quốc” “Cái gia gia” âm hưởng nhẹ nhàng mà thấm đẫm đến tâm can con người. Người khách phương xa cô đơn nghe văng vẳng tiếng chim cuốc mà lòng tê tái, não nề.
Ở đây, tác giả dùng thủ pháp dùng động để tả tĩnh thật tinh tế, thứ âm thanh coi cuốc nơi xa kia làm bệ phóng cho tác giả gửi trọn nỗi niềm về đất nước và gia đình trên cuộc hành trình của mình. Thương nước nhà đang chìm trong tình cảnh loạn lạc, xót xa thân phận gái xa nhà độc hành. Nỗi lòng thương xót ấy như được trùng trùng điệp điệp không ngơi nghỉ.
“Dừng chân nghỉ lại trời non nướcMột mảnh tình riêng ta với ta.”
Hai câu kết đưa xúc cảm của nữ sĩ lên đến đỉnh điểm của cảm xúc cao trào. ”Dừng chân” phần nào làm cho mạch cảm hứng của người đọc ngắt đoạn. Nhờ đó, mới diễn tả hết tâm trạng của nữ sĩ giữa núi rừng heo hút. Cái mênh mông, vô tận của núi rừng níu chân người thứ lữ. Ai đã từng một mình trước biển mà không choáng ngợp ?Ai đã yêu một người mà chưa từng nhớ nhung?
Thật vậy, giữa thế giới bao la, vô tận ấy làm đôi chân nhỏ bé không thể bước nổi. Sự đơn độc ấy làm người thứ lữ yếu đuối. Người con gái ấy lại một lần nữa khao khát được hòa mình vào thiên nhiên núi rừng, được che lấp sự yếu đuối, đơn độc nơi mình. Núi rừng bao la, rộng lớn bao nhiêu thì sự cô đơn, trống vắng của nữ sĩ lại càng tăng bấy nhiêu.
Từ đó, ta đủ cảm nhận “mảnh tình riêng” đơn độc đến tiếc nuối. Thể thơ thất ngôn bát cú với cấu trúc đề thực luận kết, cách hiệp vần và phép đối trong bài thơ tóm gọn bao cảm xúc trong lòng người đọc. Những tâm tư ấy đẹp biết bao qua lăng kính của tâm hồn người nữ sĩ một lòng một người yêu nước, thương dân.
Bài thơ “Qua đèo Ngang” mang đến một phong cách mới mẻ về bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, mang đậm chất trữ tình của nữ sĩ. Những vần thơ ấy sẽ còn mãi trong tâm trí người đọc, có một người yêu thiên nhiên, yêu đất nước đến vậy.
Trong thế giới nghệ thuật của Bà Huyện Thanh Quan, thời gian không bao giờ trôi đi một cách tuyến tính đơn thuần. Nó là một thực thể đan xen giữa hiện thực khắc nghiệt và quá khứ vàng son. "Qua Đèo Ngang" chính là nơi thời gian ấy ngưng đọng lại, tạo nên một hố sâu ngăn cách giữa cái tôi của nữ sĩ và thực tại đang hiện hữu. Để phân tích sâu bài thơ này, ta phải bóc tách lớp vỏ thời gian để thấy được bi kịch của một tâm hồn "lỗi nhịp" với thời đại.
Câu thơ mở đầu xác lập một hệ tọa độ thời gian mang tính biểu tượng: "Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà". "Bóng xế tà" không chỉ đơn giản là hoàng hôn của một ngày. Trong thi pháp cổ điển, hoàng hôn là thời điểm "ngày tận", gợi sự suy tàn, lụi tắt. Với một nữ sĩ mang nặng tư tưởng hoài Lê như Bà Huyện Thanh Quan, "bóng xế tà" còn ám chỉ buổi hoàng hôn của một vương triều mà bà hằng tôn thờ. Bước chân "bước tới" Đèo Ngang – ranh giới của đất nước – cũng là bước chân đi vào một vùng không gian và thời gian hoàn toàn xa lạ. Hoàng hôn buông xuống làm nhòa đi những ranh giới vật lý nhưng lại làm sắc nét thêm những ranh giới trong tâm tưởng. Đó là lúc con người lữ thứ dễ rơi vào trạng thái "nhớ nhà" nhất, vì hoàng hôn là lúc vạn vật tìm về chốn cũ, còn bà lại đang đi về phía ngược lại, phía của sự ly hương.
Tiếp nối dòng chảy thời gian là sự hiện diện của thiên nhiên: "Cỏ cây chen đá, lá chen hoa". Thiên nhiên ở đây không có tuổi, nó tồn tại vĩnh hằng và hoang dại. Điệp từ "chen" gợi ra một nhịp điệu thời gian ngưng trệ, nơi các thực thể vây lấn lấy nhau trong một sự hỗn độn nguyên sơ. Đối lập với cái vĩnh hằng ấy là sự sống con người thưa thớt: "Lom khom dưới núi tiều vài chú / Lác đác bên sông chợ mấy nhà". Những từ láy "lom khom", "lác đác" gợi ra những nhịp sống chậm chạp, mệt mỏi, như thể thời gian ở Đèo Ngang đang trôi chậm lại, hòa cùng nhịp bước chân mỏi mệt của người lữ khách. Sự nhỏ bé của con người trước núi non đại ngàn chính là biểu hiện của sự hữu hạn trước cái vô hạn của thời gian và không gian.
Bi kịch thời gian thực sự bùng nổ ở hai câu luận: "Nhớ nước đau lòng con quốc quốc / Thương nhà mỏi miệng cái gia gia". Ở đây, tác giả đã thực hiện một cú nhảy vọt về thời gian: từ hiện tại hoang vắng trở về quá khứ xa xăm qua điển tích "con quốc quốc" (vua Thục mất nước). Tiếng chim kêu không chỉ là âm thanh của buổi chiều tà, mà là tiếng vọng từ lịch sử, từ những gì đã mất đi không bao giờ trở lại. Nỗi "nhớ nước" ở đây là nỗi nhớ một thời đại đã qua, một thể chế đã lùi vào dĩ vãng. Người phụ nữ ấy đang sống ở triều đại mới nhưng lòng lại thuộc về "năm ngoái", thuộc về những giá trị cũ. Sự "mỏi miệng" của chim gia gia cũng chính là sự rệu rã của một tâm hồn đang cố gắng níu giữ những mảnh vụn của quá khứ giữa thực tại xa lạ.
Câu kết "Một mảnh tình riêng, ta với ta" chính là sự dừng lại tuyệt đối của thời gian. Khi con người "dừng chân đứng lại", đối mặt với "trời non nước" vĩnh hằng, mọi sự vận động của thời gian bên ngoài đều trở nên vô nghĩa. Chỉ còn lại "một mảnh tình riêng" – một hòn đảo thời gian cô độc trong tâm hồn nữ sĩ. Cụm từ "ta với ta" cho thấy một sự đối thoại nội tâm không có hồi kết, nơi nhà thơ tự gặm nhấm nỗi cô đơn của mình qua năm tháng. Toàn bộ bài thơ là một minh chứng cho bi kịch của một trí thức triều trước: cơ thể đang ở hiện tại nhưng linh hồn đã hóa đá trong quá khứ. "Qua Đèo Ngang" vì thế là một khúc ca hoài niệm bất tận, nơi thời gian được đo bằng nhịp đập của một trái tim đau đớn vì sự đổi thay của thế sự.
Văn học trung đại Việt Nam thường đạt đến đỉnh cao khi sử dụng bút pháp "lấy động tả tĩnh". Trong bài thơ "Qua Đèo Ngang", Bà Huyện Thanh Quan đã kiến tạo một không gian tĩnh lặng đến rợn ngợp bằng cách chắt lọc những âm thanh đơn lẻ, lạc điệu giữa núi rừng. Sự tương tác giữa những âm thanh ấy với cái tĩnh lặng của Đèo Ngang vào buổi xế chiều đã tạo nên một chiều sâu cảm xúc cực hạn, làm nổi bật nỗi đơn côi của người phụ nữ lữ thứ.
Sự tĩnh lặng bắt đầu từ câu thơ đầu tiên qua hình ảnh "bóng xế tà". Hoàng hôn là thời khắc âm thanh của ngày dần tắt, nhường chỗ cho sự im lìm của bóng tối. Trong cái nền tĩnh lặng ấy, thiên nhiên hiện lên qua thị giác "cỏ cây chen đá, lá chen hoa" – một sự chuyển động thầm lặng nhưng không phát ra tiếng động. Những động từ như "chen" gợi ra một sự va chạm vật lý nhưng lại diễn ra trong im lặng, tạo nên một cảm giác bí bách, ngột ngạt. Tiếp đến câu 3 và 4, con người xuất hiện nhưng cũng chỉ là những bóng dáng "lom khom", những ngôi nhà "lác đác". Sự im lặng của con người lao động và sự tĩnh mịch của "chợ mấy nhà" (một nơi vốn dĩ phải ồn ào nhưng ở đây lại vắng lặng) càng làm cho không gian Đèo Ngang thêm phần heo hút.
Điểm nhấn âm thanh duy nhất và mạnh mẽ nhất nằm ở hai câu luận: "Nhớ nước đau lòng con quốc quốc / Thương nhà mỏi miệng cái gia gia". Đây là âm thanh của tiếng chim giữa rừng vắng. Trong một không gian yên tĩnh đến mức nghe thấy cả hơi thở của núi rừng, tiếng "quốc quốc" và "gia gia" vang lên sẽ có sức công phá cực lớn vào thính giác. Nhưng âm thanh này không làm cho cảnh vật trở nên vui tươi hay sống động hơn. Trái lại, nó là loại âm thanh "nhấn mạnh sự im lặng". Tiếng chim kêu râm ran, đều đặn, đơn điệu như xoáy sâu vào cái tĩnh mịch của không gian, khiến người lữ khách cảm thấy mình nhỏ bé và cô độc hơn bao giờ hết. Sự chơi chữ đồng âm (quốc - nước, gia - nhà) khiến âm thanh của tự nhiên biến thành tiếng vang của tâm linh. Âm thanh ấy không lan tỏa ra không gian mà thấm ngược vào lòng người, làm trỗi dậy nỗi đau thầm kín.
Sự tĩnh lặng đạt đến đỉnh cao ở hai câu kết: "Dừng chân đứng lại, trời non nước / Một mảnh tình riêng, ta với ta". Khi con người dừng hẳn mọi hành động phát ra tiếng động ("dừng chân"), cái tĩnh lặng của vũ trụ "trời, non, nước" ập đến bao trùm lấy tất cả. Thiên nhiên mênh mông nhưng vô ngôn, nó không đáp lại tiếng lòng của con người. Sự im lặng của đất trời đối lập với sự "nói" thầm lặng của "mảnh tình riêng". Cụm từ "ta với ta" kết thúc bài thơ như một nốt lặng tuyệt đối trong bản nhạc. Không còn tiếng chim, không còn tiếng gió, chỉ còn lại cuộc đối thoại câm nín của bản thể với chính mình.
Cái hay của Bà Huyện Thanh Quan là bà không miêu tả sự im lặng một cách trực tiếp. Bà để cho tiếng chim nói thay cái tĩnh lặng của rừng già, để cho "bóng xế tà" nói thay cái tĩnh lặng của thời gian, và để cho "mảnh tình riêng" nói thay cái tĩnh lặng của tâm hồn. Nghệ thuật lấy động tả tĩnh ở đây không chỉ là kỹ thuật miêu tả cảnh vật, mà là một thủ pháp tâm lý để đẩy nỗi cô đơn lên mức cao nhất. Bài thơ "Qua Đèo Ngang" vì thế giống như một mặt hồ phẳng lặng, nơi một tiếng chim rơi xuống cũng đủ tạo nên những vòng sóng cảm xúc lan tỏa mãi không thôi trong lòng người đọc.
Xem thêm:
Hy vọng với dàn ý chi tiết và hướng dẫn phân tích bài thơ Qua đèo Ngang trên đây, các em học sinh sẽ cảm nhận được trọn vẹn vẻ đẹp của "bức tranh bằng chữ" mà Bà Huyện Thanh Quan đã để lại. Tác phẩm không chỉ dừng lại ở việc miêu tả một địa danh, mà nó đã trở thành một biểu tượng thi ca về nỗi lòng hoài cổ và sự cô đơn của con người trước vũ trụ bao la. Chúc các em vận dụng linh hoạt để có một bài văn phân tích, nghị luận văn học sâu sắc, chạm đến cảm xúc người đọc và đạt kết quả cao!
Bài viết có hữu ích với bạn không?
Có
Không
Cám ơn bạn đã phản hồi!