Các bạn! Mỗi lần nhìn thấy cây lược ngà nhỏ ấy là mỗi lần tôi băn khoăn và ngậm ngùi. Trong cuộc đời kháng chiến của tôi, tôi chứng kiến không biết bao nhiêu cuộc chia tay, nhưng chưa bao giờ tôi bị xúc động như lần ấy. Trong những ngày hoà bình vừa lập lạ), tôi cùng về thăm quê với một người bạn. Nhà chúng tôi ở cạnh nhau, gần vàm kinh nhỏ đổ ra sông Cửu Long. Chúng tôi cùng thoát li đi kháng chiến đầu năm 1946, sau khi tỉnh nhà bị chiếm. Lúc đi, đứa con gái đầu lòng của anh - và cũng là đứa con duy nhất của anh, chưa đầy một tuổi. Anh thứ sáu và cũng tên Sáu. Suốt mấy năm kháng chiến, chị Sáu có đến thăm anh mấy lần. Lần nào anh cũng bảo chị đưa con đến. Nhưng cái cảnh đi thăm chồng ở chiến trường miền Đông không đơn giản. Chị không dám đưa con qua rừng.
Nghe chị nói có lí, anh không trách được. Anh chỉ thấy con qua tấm ảnh nhỏ thôi. Đến lúc được về, cái tình người cha cứ nôn nao trong người anh. Xuồng vào bến, thấy một đứa bé độ tám tuổi tóc cắt ngang vai, mặc quần đen, áo bông đỏ đang chơi nhà chòi dưới bóng cây xoài trước sân nhà, đoán biết là con, không thể chờ xuồng cập lại bến, anh nhún chân nhảy tót lên, xô chiếc xuồng tạt ra, khiến tôi bị chới với.
Anh bước vội vàng với những bước dài, rồi dừng lại kêu to:
- Thu! Con.
Vừa lúc ấy, tôi đã đến gần anh. Với lòng mong nhớ của anh, chắc anh nghĩ rằng, con anh sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy cổ anh. Anh vừa bước, vừa khom người đưa tay đón chờ con. Nghe gọi, con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác, lạ lùng. Còn anh, anh không ghìm nổi xúc động. Mỗi lần bị xúc động, vết thẹo dài bên má phải lại đỏ ửng lên, giần giật, trông rất dễ sợ. Với vẻ mặt xúc động ấy và hai tay vẫn đưa về phía trước, anh chầm chậm bước tới, giọng lặp bặp run run:
- Ba đây con!
- Ba đây con!
Con bé thấy lạ quá, nó chớp mắt nhìn tôi như muốn hỏi đó là ai, mặt nó bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên: "Má! Má!". Còn anh, anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy.
Vì đường xa, chúng tôi chỉ ở nhà được có ba ngày. Trong ba ngày ngắn ngủi đó, con bé không kịp nhận ra anh là cha ... Suốt ngày anh chẳng đi đâu xa, lúc nào cũng vỗ về con. Nhưng càng vỗ về, con bé càng đầy ra. Anh mong được nghe một tiếng "ba" của con bé, nhưng con bé chăng bao giờ chịu gọi. Nghe mẹ nó bảo gọi ba vào ăn cơm thì nó bảo lại:
- Thì má cứ kêu đi.
Mẹ nó đâm nổi giận quơ đũa bếp doạ đánh, nó phải gọi nhưng lại nói trồng:
- Vô ăn cơm!
Anh Sáu vẫn ngồi im, giả vờ không nghe, chờ nó gọi “Ba vô ăn cơm.". Con bé cứ đứng trong bếp nói vọng ra:
- Cơm chín rồi!
Anh cũng không quay lại. Con bé bực quá, quay lại mẹ và bảo:
- Con kêu rồi mà người ta không nghe.
Anh quay lại nhìn con, vừa khe khẽ lắc đầu vừa cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được, nên anh phải cười vậy thôi. Bữa sau, đang nấu cơm thì mẹ nó chạy đi mua thức ăn. Mẹ nó dặn, ở nhà có gì cần thì gọi ba giúp cho. Nó không nói không rằng, cứ lui cui dưới bếp. Nghe nồi cơm sôi, nó giở nắp, lấy đũa bếp sơ qua - nồi cơm hơi to, nhắm không thể nhắc xuống để chắt nước được, đến lúc đó nó mới nhìn lên anh Sáu. Tôi nghĩ thầm, con bé đang bị dồn vào thế bí, chắc nó phải gọi ba thôi.
Nó nhìn dáo dác một lúc rồi kêu lên:
- Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái! - Nó cũng lại nói trồng.
Tôi lên tiếng mở đường cho nó:
- Cháu phải gọi “Ba chắt nước giùm con.", phải nói như vậy.
Nó như không để ý đến câu nói của tôi, nó lại kêu lên:
- Cơm sôi rồi, nhão bây giờ!
Anh Sáu cứ vẫn ngồi im. Tôi doạ nó:
- Cơm mà nhão, má cháu về thế nào cũng bị đòn. Sao cháu không gọi ba cháu?
Cháu nói một tiếng “ba” không được sao?
Lúc đó, nồi cơm sôi lên sùng sục. Nó hơi sợ, nó nhìn xuống, vẻ nghĩ ngợi, nhắc không nổi, nó lại nhìn lên. Tiếng cơm sôi như thúc giục nó. Nó nhăn nhó muốn khóc. Nó nhìn nồi cơm, rồi nhìn lên chúng tôi. Thấy nó luýnh quýnh, tôi vừa tội nghiệp vừa buồn cười, nghĩ chắc thế nào nó cũng chịu thua. Nó loay hoay rồi nhón gót lấy cái vá múc ra từng vá nước, miệng lẩm bẩm điều gì không rõ. Con bé đáo để thật.
Trong bữa cơm đó, anh Sáu gắp một cái trứng cá to vàng để vào chén nó. Nó liền lấy dũa xoi vào chén, để đó rồi bất thần hất cái trứng ra, cơm văng tung toé cả mâm. Giận quá và không kịp suy nghĩ, anh vung tay đánh vào mông nó và hét lên:
- Sao mày cứng đầu quá vậy, hả?
Tôi tưởng con bé sẽ lăn ra khóc, sẽ giãy, sẽ đạp đổ cả mâm cơm, hoặc sẽ chạy vụt đi. Nhưng không, nó ngồi im, đầu cúi gằm xuống. Nghĩ thế nào, nó cầm đũa, gắp lại cái trứng cá để vào chén, rồi lặng lẽ đứng dậy, bước ra khỏi mâm. Xuống bến, nó nhảy xuống xuồng, mở lòi tói, cố làm cho dây lòi tói khua rồn rảng, khua thật to, rồi lấy dầm bơi qua sông. Nó sang nhà ngoại, méc với ngoại và khóc ở bên ấy. Chiều đó, mẹ nó sang dỗ dành mấy nó cũng không về. Ngày mai anh Sáu phải đi, đó là đêm cuối cùng của hai anh chị, chị cũng không muốn bắt nó về.
Sáng hôm sau, bà con bên nội, bên ngoại đến rất đông. Cả con bé cũng theo ngoại nó về. Anh Sáu phải lo tiếp khách, anh như không chú ý đến con nữa. Còn chị Sáu thì lo chuẩn bị đồ đạc cho chồng, chị lo xếp từng chiếc áo, gói ghém đồ đạc vụn vặt vào cái túi nhỏ, chị cứ lúi húi bên chiếc ba lô. Con bé như bị bỏ rơi, lúc đứng vào góc nhà, lúc đứng tựa cửa và cứ nhìn mọi người đang vây quanh ba nó. Vẻ mặt của nó có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của con bé trông rất dễ thương. Với đôi mi dài uốn cong, và như không bao giờ chớp, đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa.
Đến lúc chia tay, mang ba lô lên vai, sau khi bắt tay hết mọi người, anh Sáu mới đưa mắt nhìn con, thấy nó dứng trong góc nhà. Chắc anh cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng hình như cũng sợ nó giãy lên lại bỏ chạy, nên anh chỉ đứng nhìn nó. Anh nhìn với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu. Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao.
- Thôi! Ba đi nghe con! - Anh Sáu khe khẽ nói.
Chúng tôi, mọi người - kể cả anh, đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó thôi. Nhưng thật lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con như bỗng nổi dậy trong người nó, trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên:
-Ba…a...a… ba!
Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “ba" mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng “ba” như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy tót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. Tôi thấy làn tóc tơ sau ót nó như dựng dứng lên.
Nó vừa ôm chặt lấy cổ ba nó vừa nói trong tiếng khóc:
- Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con!
Ba nó bế nó lên. Nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa. Trong lúc đó, ngoại nó cho tôi biết, đêm qua, bà đã tìm hiểu được vì sao nó không chịu nhận ba nó. Bà hỏi:
- Ba con, sao con không nhận?
- Không phải. - Đang nằm mà nó cũng giãy lên.
- Sao con biết là không phải? Ba con đi lâu, con quên rồi chứ gì!
- Ba không giống cái hình ba chụp với má.
- Sao không giống, đi lâu, ba con già hơn trước thôi.
- Cũng không phải già, ba con không có cái thẹo trên mặt như vậy.
À ra vậy, bây giờ bà mới biết. Té ra nó không nhận ba nó là vì cái vết thẹo, và bà cho nó biết, ba nó đi đánh Tây bị Tây bắn bị thương - bà nhắc lại tội ác mấy thằng Tây ở đồn đầu vàm cho nó nhớ. Nghe bà kể, nó nằm im, lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn. Sáng hôm sau, nó lại bảo ngoại đưa nó về. Nó vừa nhận ra thì ba nó đã đến lúc phải đi rồi.
Trong lúc đó, nó vẫn ôm chặt lấy ba nó. Không ghìm được xúc động và không muốn cho con thấy mình khóc, anh Sáu một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt, rồi hôn lên mái tóc con:
- Ba đi rồi ba về với con.
- Không! - Con bé hét lên, hai tay nó siết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi vai nhỏ bé của nó run run.
Nhìn cảnh ấy, bà con xung quanh có người không cầm được nước mắt, còn tôi bỗng thấy khó thở như có bàn tay ai nắm lấy trái tim tôi. Tôi bỗng nảy ra ý nghĩ, muốn bảo anh ở lại vài hôm. Nhưng thật khó, chúng tôi chưa biết mình sẽ đi tập kết hay ở lại. Chúng tôi cần về đúng ngày nhận lệnh để kịp chuẩn bị. Thế là đã đến lúc phải đi rồi, mọi người phải xúm lại vỗ về nó, mẹ nó bảo:
- Thu! Để ba con đi. Thống nhất rồi ba con về.
Bà ngoại nó vừa vuốt tóc nó vừa dỗ:
- Cháu của ngoại giỏi lắm mà! Cháu để ba cháu đi rồi ba sẽ mua về cho cháu một cây lược.
Con bé lại ôm chầm ba nó một lần nữa và mếu máo:
- Ba về! Ba mua cho con một cây lược, nghe ba! - Nó nói trong tiếng nấc, vừa nói vừa từ từ tuột xuống.
Sau đó hai chúng tôi trở lại miền Đông. Chúng tôi là cán bộ đoàn thể, chúng tôi không đi tập kết. Từ năm năm mươi tư đến năm năm mươi tám, năm mươi chín là những năm khó khăn, các bạn đã biết rồi. Về công việc và đời sống ở rừng, tôi có thể kể cho đến sáng, có đêm bị biệt kích và vây bắt đến ba lần, có ngày không gạo ăn, ăn toàn là bắp, nhưng thôi, đó là chuyện khác. Tôi xin trở lại mối tình cha con của bạn tôi. Những đêm rừng, nằm trên võng, mắt chỉ thấy tấm ni lông nóc, lúc nhớ con anh cứ ân hận sao mình lại đánh con. Nỗi khổ tâm đó cứ giày vò anh.
[ ... ] Tôi hãy còn nhớ buổi chiều hôm đó - buổi chiều sau một ngày mưa rừng, giọt mưa còn đọng trên lá, rừng sáng lấp lánh. Đang ngồi làm việc dưới tấm ni lông nóc, tôi bỗng nghe tiếng kêu. Từ con đường mòn chạy lẫn trong rừng sâu, anh hớt hải chạy về, tay cầm khúc ngà đưa lên khoe với tôi. Mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quà.
Sau đó anh lấy vỏ đạn hai mươi li của Mỹ, đập mỏng làm thành một cây cưa nhỏ, cưa khúc ngà thành từng miếng nhỏ. Những lúc rỗi, anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc. Chẳng hiểu sao tôi thích ngồi nhìn anh làm và cảm thấy vui vui khi thấy bụi ngà rơi mỗi lúc một nhiều. Một ngày, anh cưa được một vài răng. Không bao lâu sau, cây lược được hoàn thành. Cây lược dài độ hơn một tấc, bề ngang độ ba phân rưỡi, cây lược cho con gái, cây lược dùng để chải mái tóc dài, cây lược chỉ có một hàng răng thưa. Trên sống lưng lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng, tẩn mẫn khắc từng nét: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. Cây lược ngà ấy chưa chải được mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh.
Những đêm nhớ con, anh ít nhớ đến nỗi hối hận đánh con, nhớ con, anh lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt. Có cây lược, anh càng mong gặp lại con. Nhưng rồi một chuyện không may xảy ra. Một ngày cuối năm năm mươi tám - năm đó ta chưa võ trang - trong một trận càn lớn của quân Mỹ - nguy, anh Sáu hi sinh. Anh bị viên đạn của máy bay Mỹ băn vào ngực. Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, anh đưa tay vào túi, móc cây lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu. Tôi không đủ lời lẽ để tả lại cái nhìn ấy, chỉ biết rằng, cho đến bây giờ, thỉnh thoảng tôi cứ nhớ lại đôi mắt của anh.
- Tôi sẽ mang về trao tận tay cho cháu.
Tôi cúi xuống gần anh và khẽ nói. Đến lúc ấy, anh mới nhắm mắt đi xuôi.
Đóng vai ông Sáu kể lại chuyện Chiếc lược Ngà
I. Mở bài
Giới thiệu bản thân: Tôi là Sáu, một người lính kháng chiến.
Hoàn cảnh nảy sinh hồi tưởng: Những ngày ở chiến khu, nỗi nhớ con da diết lại trào dâng. Tôi nhớ về chuyến thăm nhà ngắn ngủi sau 9 năm xa cách – chuyến đi để lại trong tôi cả nỗi đau xót lẫn niềm hạnh phúc tột cùng.
II. Thân bài
1. Tâm trạng háo hức trên đường về thăm nhà
Kể về hoàn cảnh ra đi: Năm 1946, khi con gái chưa đầy một tuổi.
Nỗi lòng người cha: 9 năm xa nhà, hình ảnh con chỉ qua tấm ảnh cũ. Tôi luôn khao khát ngày trở về.
Cảm xúc khi gần đến nhà: Rạo rực, phấn chấn, nôn nóng khi xuồng chưa kịp cập bến sông Cửu Long.
2. Sự hụt hẫng và nỗi đau khi con không nhận cha
Khoảnh khắc gặp gỡ: Tôi nhảy lên bờ, gọi to "Thu! Con!", đưa tay chờ đón con.
Phản ứng của bé Thu: Con bé tròn mắt ngạc nhiên, rồi sợ hãi bỏ chạy, kêu cứu "Má! Má!".
Cảm xúc của tôi: Sững sờ, đau khổ, mặt sầm lại, hai tay buông thõng như bị gãy. Nỗi đau đớn hiện rõ trên khuôn mặt.
3. Những ngày phép ngắn ngủi và sự bướng bỉnh của con
Tôi cố gắng gần gũi, vỗ về nhưng con bé càng đẩy ra xa.
Những tình huống trớ trêu:
Con bé nói trổng khi mời cơm: "Vô ăn cơm!", "Cơm chín rồi!". Tôi giả vờ không nghe để chờ một tiếng "Ba", nhưng con bé nhất quyết không gọi.
Tình huống nồi cơm sôi: Dù bị dồn vào thế bí, nó vẫn tự xoay xở chắt nước chứ không nhờ "Ba" giúp. Tôi vừa giận, vừa đau lòng, vừa buồn cười vì sự "đáo để" của con.
Đỉnh điểm của sự xung đột: Trong bữa cơm, tôi gắp trứng cá cho con, con bé bất thần hất tung ra. Trong cơn giận mất kiểm soát, tôi đã đánh vào mông con. Con bé không khóc, lẳng lặng bỏ sang nhà bà ngoại.
4. Cuộc chia tay và tiếng gọi "Ba" thiêng liêng
Sáng ngày chia tay: Nhà đông người đến tiễn, tôi bận rộn nhưng ánh mắt vẫn tìm con. Thấy Thu đứng bơ vơ ở cửa, vẻ mặt không còn bướng bỉnh mà buồn rầu.
Giây phút quyết định: Tôi không dám lại gần, chỉ đứng nhìn con bằng ánh mắt xót xa và khẽ nói: "Thôi! Ba đi nghe con!".
Sự bùng nổ cảm xúc: Thu thét lên tiếng "Ba... a... a... ba!". Tiếng gọi xé lòng mà tôi đã chờ đợi suốt 8 năm.
Hành động của con: Con bé chạy đến ôm chặt cổ tôi, khóc nức nở, không cho tôi đi.
Lời hứa: Tôi ôm con, khóc cùng con. Bà ngoại dỗ dành, Thu mới chịu buông nhưng không quên dặn: "Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba!".
5. Suy ngẫm về nguyên nhân sự hiểu lầm
Sau đó tôi mới biết, con không nhận tôi vì vết sẹo trên mặt – vết tích của chiến tranh làm tôi khác với người cha trong ảnh.
Tôi vừa thương con, vừa căm ghét chiến tranh đã gây ra nghịch cảnh éo le này.
III. Kết bài
Lời hứa và niềm hy vọng: Tôi lên đường mang theo lời hứa làm cho con chiếc lược ngà.
Cảm xúc hiện tại: Tiếng gọi "Ba" ngày hôm ấy là động lực giúp tôi vượt qua mọi gian khổ ở chiến trường. Tôi nợ con một cuộc đời bình yên và một chiếc lược nhỏ.
Một số lưu ý khi viết bài:
Sử dụng ngôi kể thứ nhất: Xưng "tôi" (ông Sáu).
Miêu tả nội tâm: Tập trung vào cảm giác đau đớn khi bị từ chối và sự vỡ òa khi được con nhận lại.
Chi tiết vết sẹo: Đây là chi tiết then chốt, cần được nhắc đến để giải thích cho sự bướng bỉnh của bé Thu.
Giọng văn: Cần truyền cảm, có sự suy tư của một người cha đã nếm trải gian khổ chiến tranh.
Tôi ngồi đây, giữa rừng sâu biên giới, khi tiếng lá xào xạc gợi về tiếng sóng vỗ bên mạn xuồng ngày ấy. Đã bao nhiêu năm rồi kể từ ngày tôi rời xa quê hương để đi theo tiếng gọi của Tổ quốc? Năm 1946, tôi lên đường khi con gái tôi – bé Thu – chưa đầy một tuổi. Suốt chín năm đằng đẵng, hình ảnh con chỉ hiện lên qua tấm ảnh đen trắng cũ kỹ mà vợ tôi gửi sang. Thế nhưng, ngày trở về, cái ngày mà tôi mong chờ nhất, lại là ngày tôi đau đớn nhất.
Khi chiếc xuồng cập bến con sông Cửu Long quen thuộc, tim tôi đập liên hồi. Tôi thấy một đứa bé khoảng mười tuổi đang chơi đùa trước sân. Đó là Thu! Con gái tôi! Không thể nhầm được. Tôi không chờ xuồng cập bến hẳn đã nhảy phắt lên bờ, bước những bước dài, giọng run run: "Thu! Con! Ba đây con!". Tôi khom người, đưa tay ra, chờ đợi một cái ôm ấm áp, một tiếng gọi "Ba" mà tôi đã khao khát suốt chín năm qua.
Nhưng trái ngược với sự rạo rực của tôi, con bé tròn mắt nhìn tôi với vẻ lạ lẫm và sợ hãi. Nó lùi lại, mặt tái đi rồi bất ngờ bỏ chạy, kêu thét lên: "Má! Má!". Giây phút đó, tôi thấy đất trời như sụp đổ dưới chân. Hai tay tôi buông thõng xuống, cảm giác như chúng vừa bị gãy. Mặt tôi sầm lại, một nỗi cay đắng tràn ngập tâm trí. Tại sao con lại sợ tôi? Tại sao nó không nhận ra ba nó?
Ba ngày phép ngắn ngủi trôi qua trong sự bế tắc. Tôi chẳng đi đâu xa, chỉ quanh quẩn ở nhà, tìm mọi cách để làm thân với con. Tôi vỗ về, chăm sóc, nhưng càng gần thì Thu lại càng đẩy tôi ra xa. Tôi nhớ nhất buổi trưa hôm ấy, khi nồi cơm sôi to mà Thu không thể nhấc xuống. Tôi đứng đó, hy vọng con sẽ gọi mình một tiếng "Ba" để nhờ vả. Tôi đã đợi, đợi mãi... Nhưng con bé thật "đáo để". Nó nhìn tôi với ánh mắt bướng bỉnh rồi thốt lên: "Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái!". Tiếng nói trổng không của nó như nhát dao khứa vào lòng tôi. Tôi im lặng, vừa khổ tâm vừa buồn cười cho cái sự bướng bỉnh của nó.
Đến bữa cơm, tôi gắp một miếng trứng cá thật to bỏ vào bát con như một cử chỉ yêu thương. Vậy mà, nó bất ngờ hất tung miếng trứng ra ngoài, làm cơm đổ tung tóe. Sự kiên nhẫn của tôi vỡ vụn. Tôi vung tay đánh vào mông nó: "Sao mày cứng đầu quá vậy, hả?". Tôi hối hận ngay lúc đó, nhưng con bé không khóc. Nó lẳng lặng gắp miếng trứng cá để lại vào bát, rồi bỏ sang nhà bà ngoại. Đêm đó tôi đã không ngủ được. Tôi tự hỏi, chiến tranh đã lấy đi của tôi nhiều thứ, nhưng liệu nó có lấy đi cả tình cha con của tôi không?
Ngày chia tay cũng đến. Tôi đứng đó giữa đám đông họ hàng, nhìn con bé đứng bơ vơ bên cửa. Tôi muốn ôm nó, nhưng sợ nó lại chạy mất. Tôi chỉ dám đứng từ xa, nhìn con với ánh mắt xót xa rồi khẽ nói: "Thôi! Ba đi nghe con!". Và rồi, một phép màu đã xảy ra. Con bé thét lên: "Ba... a... a... ba!". Tiếng gọi ấy xé tan bầu không khí im lặng, xé cả ruột gan tôi. Thu chạy đến ôm chặt lấy cổ tôi, nức nở không cho tôi đi. Tôi ôm con, nước mắt trào ra. Hóa ra, con vẫn yêu tôi, chỉ là nó không chấp nhận người đàn ông có vết sẹo này là ba nó. Giờ đây, ở chiến khu, tiếng gọi "Ba" ấy vẫn vang vọng trong tim, là động lực để tôi tiếp tục chiến đấu.
Tôi là một người lính, và trên khuôn mặt tôi có một vết sẹo dài từ mang tai đến tận cổ - dấu tích của một lần càn quét của giặc Pháp. Tôi từng tự hào về nó như một tấm huy chương của lòng dũng cảm, cho đến ngày tôi trở về thăm con gái sau chín năm xa cách. Vết sẹo ấy, thật trớ trêu, lại trở thành bức tường ngăn cách giữa tôi và bé Thu.
Ngày tôi về, tôi cứ ngỡ mọi chuyện sẽ diễn ra như trong những giấc mơ đẹp nhất. Tôi sẽ bế con lên cao, con sẽ ôm cổ tôi và gọi "Ba". Nhưng thực tế lại là một cú tát phũ phàng. Ánh mắt Thu nhìn tôi không có một chút tình cảm nào, chỉ có sự ngạc nhiên xen lẫn sợ hãi. Nó nhìn vết sẹo đỏ hửng trên mặt tôi, vết sẹo giật giật mỗi khi tôi xúc động, và rồi nó bỏ chạy. Tôi đứng lặng người trên bến sông, cảm nhận cái lạnh lẽo thấu xương dù nắng phương Nam đang rực rỡ.
Trong ba ngày phép, tôi đã cố gắng trở thành một người cha thực thụ. Tôi muốn bù đắp cho con chín năm thiếu vắng. Nhưng mỗi khi tôi tiến lại gần, con bé lại lùi xa. Có lần, tôi bảo nó gọi ba vào ăn cơm, nó nói trổng: "Vô ăn cơm!". Tôi giả vờ không nghe, hy vọng một sự thay đổi. Nó lại nói vọng ra: "Cơm chín rồi!". Thậm chí, khi nồi cơm sôi nhão đến nơi, nó vẫn nhất quyết không gọi tôi một tiếng "Ba" để nhờ chắt nước. Nó lấy vá múc từng vá nước ra, thà chịu vất vả chứ không chịu nhận người đàn ông có vết sẹo này làm cha.
Tôi đau lắm. Tôi nhìn vào gương và ghét cay ghét đắng vết sẹo ấy. Tại sao chiến tranh không chỉ lấy đi máu xương, mà còn tàn phá cả tâm hồn của một đứa trẻ, khiến nó không nhận ra cha mình? Sự bướng bỉnh của Thu khiến tôi vừa giận vừa thương. Tôi biết, trong lòng nó, hình ảnh người cha trong tấm ảnh chụp cùng má nó mới là thật – một người cha không có vết sẹo quái ác kia.
Buổi cơm cuối cùng, khi sự chịu đựng đi quá giới hạn, tôi đã đánh con. Đó là sai lầm lớn nhất của tôi. Nhìn con bé lẳng lặng bỏ đi, lòng tôi thắt lại. Tôi đã nghĩ rằng chuyến đi này là một thất bại hoàn toàn. Nhưng đến sáng ngày ra đi, mọi chuyện đã thay đổi. Thu đứng đó, nhìn tôi với ánh mắt khác lạ. Không còn bướng bỉnh, chỉ còn nỗi buồn sâu thẳm.
Khi tôi cất lời từ biệt, con bé bất ngờ gọi tôi là "Ba". Tiếng gọi ấy như tiếng sét đánh ngang tai, khiến tôi run rẩy. Thu ôm chặt tôi, hôn khắp mặt tôi, hôn cả lên vết sẹo dài ấy. Hóa ra, bà ngoại đã giải thích cho Thu hiểu về vết sẹo. Sự ngộ nhận đã được xóa bỏ, nhưng cũng là lúc tôi phải đi. Con bé khóc lóc, bắt tôi hứa mua cho nó một cây lược. Vết sẹo trên mặt tôi giờ đây không còn là nỗi đau nữa, bởi nó đã được chữa lành bằng tình yêu của con. Tôi lên đường với lời hứa sẽ mang về cho con chiếc lược ngà đẹp nhất.
Chín năm kháng chiến, tôi đã kinh qua bao nhiêu trận đánh, đối mặt với bao cái chết cận kề nhưng chưa bao giờ tôi thấy mình yếu mềm như ba ngày về thăm nhà. Đó là ba ngày của những hy vọng, tuyệt vọng và cả những niềm ân hận khôn nguôi về một lỗi lầm tôi đã phạm phải với đứa con gái duy nhất của mình.
Bé Thu của tôi, khi tôi đi con mới chỉ là một đứa trẻ ẵm ngửa. Ngày về, nó đã lớn, cao đến vai tôi. Nhưng tình cảm cha con không tự nhiên mà có sau chín năm xa cách. Thu không nhận tôi. Nó coi tôi như một người lạ, một kẻ xâm phạm vào cuộc sống của mẹ con nó. Sự cự tuyệt của nó mạnh mẽ đến mức khiến một người lính dạn dày như tôi cũng phải bàng hoàng. Tôi tìm mọi cách vỗ về, con bé lại càng đẩy ra. Nó thà chịu đòn, thà nói trổng chứ không chịu gọi tôi bằng "Ba".
Đỉnh điểm là bữa cơm ngày phép thứ hai. Tôi muốn thể hiện tình yêu của mình bằng cách gắp cho con cái trứng cá to nhất, vàng ươm nhất. Đó là tất cả sự quan tâm mà tôi có thể dành cho con lúc đó. Nhưng thật bất ngờ, Thu lấy đũa hất tung cái trứng cá ra khỏi bát, cơm văng tung tóe trên mâm. Trong một phút nóng giận không kiềm chế được, tôi đã vung tay đánh vào mông con và hét lớn: "Sao mày cứng đầu quá vậy?".
Ngay khi bàn tay tôi chạm vào con, tôi đã biết mình sai. Tôi nhìn con bé ngồi im, đầu cúi gằm. Nó không khóc, một sự lì lợm đến đáng sợ ở một đứa trẻ mười tuổi. Rồi nó lẳng lặng gắp miếng trứng cá để lại vào bát và bước ra khỏi mâm cơm. Tiếng khua "lòi tói" dưới bến sông và tiếng chèo xuồng của con bé cứ ám ảnh tôi suốt đêm ấy. Tôi đã đánh con – đứa con mà tôi nhớ nhung suốt chín năm. Tôi thấy mình thật tệ bạc. Tôi đã không hiểu được nỗi lòng của con, không hiểu vì sao nó lại hành động như vậy.
Sáng hôm sau, khi chuẩn bị lên đường, tôi thấy Thu đứng bên cửa. Ánh mắt nó không còn hằn học nữa mà thoáng một nét buồn. Tôi muốn lại gần ôm con, nhưng bàn tay tôi vừa đánh con hôm qua như vẫn còn run rẩy. Tôi đứng xa, chỉ dám chào con. Và rồi, Thu thét lên tiếng "Ba". Tiếng gọi ấy như xóa sạch mọi lỗi lầm, mọi khoảng cách. Con bé chạy lại, ôm chặt lấy tôi như sợ tôi biến mất. Nó hôn lên mái tóc, lên cổ và cả vết sẹo trên mặt tôi.
Bà ngoại kể lại, đêm qua Thu đã sang nhà bà và được bà giải thích về vết sẹo do giặc Pháp gây ra. Nó đã hiểu, đã thương ba nó nhiều hơn. Tôi ôm con vào lòng, giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên má. Tôi xin lỗi con trong tâm tưởng. Chiến tranh đã gây ra quá nhiều đau khổ, và chính sự nóng nảy của tôi đã làm tổn thương con thêm một lần nữa. Trước khi đi, Thu dặn: "Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba!". Lời dặn ấy là mệnh lệnh của trái tim, tôi nhất định sẽ thực hiện để bù đắp cho con.
Tôi đã trở lại chiến khu được một thời gian, nhưng âm thanh của buổi sáng chia tay trên bến sông ấy vẫn còn vang vọng bên tai tôi mỗi đêm. Đó là tiếng gọi "Ba" – tiếng gọi mà tôi đã phải trả giá bằng chín năm xa cách và ba ngày đau khổ để có được.
Ba ngày phép ở nhà, tôi như người khách lạ trong chính gia đình mình. Bé Thu nhất định không nhận tôi là ba. Những tình huống trớ trêu cứ thế diễn ra. Con bé thà chịu cơm nhão, thà nói trổng chứ không bao giờ thốt ra tiếng "Ba" thiêng liêng. Tôi đã khổ tâm đến mức không khóc được, chỉ biết cười gượng gạo. Tôi tự hỏi, tại sao tình cảm gia đình lại trở nên xa xỉ đến thế trong thời chiến?
Sáng ngày tôi đi, bà con lối xóm đến chia tay rất đông. Tôi bận rộn tiếp khách, nhưng tâm trí luôn đặt ở nơi đứa con gái nhỏ. Thu đứng bơ vơ ở góc cửa, nhìn mọi người với vẻ mặt nghiêm nghị. Nó không còn quấy phá, không còn bướng bỉnh, nhưng cũng không lại gần tôi. Tôi thấy mình bất lực. Giờ phút chia tay đã đến, ba lô đã trên vai, tôi nhìn quanh tìm con lần cuối. Ánh mắt chúng tôi gặp nhau. Tôi thấy trong mắt Thu một nỗi buồn mênh mông, một sự hối hận muộn màng.
Tôi không dám lại gần, vì sợ con sẽ lại bỏ chạy. Tôi chỉ đứng nhìn con bằng đôi mắt xót xa, rướm lệ và khẽ nói: "Thôi! Ba đi nghe con!". Tôi quay lưng đi, lòng nặng trĩu. Nhưng ngay lúc đó, một âm thanh xé lòng vang lên: "Ba... a... a... ba!".
Tiếng gọi ấy như tiếng xé, xé toạc sự im lặng của rừng cây, xé cả ruột gan những người đứng đó. Thu chạy nhanh như một con sóc, nhảy thót lên ôm chặt lấy cổ tôi. Nó ôm khít lấy tôi, hai chân câu chặt lấy ngang hông, đôi tay nhỏ bé siết chặt lấy cổ. Nó khóc nức nở: "Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con!". Lần đầu tiên sau chín năm, tôi cảm nhận được hơi ấm của con, cảm nhận được nhịp tim của con đập trên ngực mình.
Tôi chỉ biết ôm con, nước mắt trào ra. Tôi lau nước mắt bằng cái khăn rằn, hôn lên mái tóc con. Mọi người xung quanh ai cũng sụt sùi. Bà ngoại phải lại gần dỗ dành, hứa rằng ba sẽ mua cho con một cây lược thì con bé mới chịu buông ra. Lúc xuống xuồng, tôi vẫn thấy Thu đứng trên bờ, đôi mắt đỏ hoe nhìn theo. Nó hét lớn: "Ba mua cho con cây lược nghe ba!".
Tiếng gọi ấy là món quà quý giá nhất mà tôi nhận được trong đời lính. Nó giúp tôi hiểu rằng, dù chiến tranh có tàn khốc đến đâu, dù thời gian có làm thay đổi khuôn mặt con người, thì tình yêu ruột thịt vẫn luôn tồn tại, mãnh liệt và không gì có thể ngăn cản được. Tôi sẽ làm cho con chiếc lược đẹp nhất từ ngà voi, để mỗi khi chải tóc, con sẽ thấy ba luôn ở bên cạnh.
Nằm trên chiếc võng giữa rừng già, nghe tiếng bom nổ xa xa, tôi lại lấy tấm ảnh của Thu ra ngắm. Ký ức về ba ngày phép ngắn ngủi hiện về như một thước phim quay chậm. Có đau đớn, có nước mắt, nhưng cuối cùng là sự vỡ òa của hạnh phúc. Tôi nhớ như in lời dặn cuối cùng của con: "Ba mua cho con một cây lược nghe ba!".
Lời dặn ấy đã trở thành lẽ sống của tôi ở chiến khu này. Những ngày qua, tôi luôn trăn trở làm sao để có được một cây lược thật đặc biệt cho con. Tôi không muốn mua một cây lược tầm thường ở chợ. Tôi muốn tự tay làm nó, gửi gắm vào đó tất cả tình yêu và nỗi nhớ mà tôi dành cho con suốt mười năm qua.
Tôi nhớ lại vẻ mặt của Thu lúc chia tay. Con bé thật mạnh mẽ nhưng cũng thật đáng thương. Chỉ vì một vết sẹo trên mặt tôi mà nó đã phải đấu tranh tư tưởng dữ dội. Khi biết sự thật rằng ba nó là một người lính bị thương vì giặc, tình yêu trong nó bùng cháy mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Tôi ân hận vì đã không kiên nhẫn hơn với con, ân hận vì cái tát trong bữa cơm ấy. Nhưng có lẽ, chính những va chạm, những nút thắt ấy đã làm cho tiếng gọi "Ba" ở phút cuối trở nên giá trị hơn gấp bội.
Hôm nay, trong một lần đi tuần tra, tôi đã may mắn tìm được một khúc ngà voi. Cầm khúc ngà trắng muốt trên tay, tôi run run xúc động. Đây rồi! Đây chính là vật liệu để tôi thực hiện lời hứa với con. Tôi bắt đầu những ngày tháng tỉ mẩn, cưa từng chiếc răng lược, mài dũa từng góc cạnh. Mỗi nhát cưa, tôi đều nghĩ đến Thu. Tôi muốn chiếc lược này phải thật mịn, để khi chạm vào mái tóc xanh mướt của con, nó sẽ thay bàn tay tôi vỗ về, chăm sóc con.
Tôi sẽ khắc lên sống lược dòng chữ: "Yêu nhớ tặng Thu, con của ba". Chiếc lược này sẽ là cầu nối, là minh chứng cho tình cha con bất diệt của chúng tôi. Chiến tranh vẫn còn dài, hiểm nguy vẫn rình rập, nhưng tôi không sợ. Tiếng gọi "Ba" của con ở bến sông ngày ấy là bùa hộ mệnh, là sức mạnh giúp tôi vượt qua tất cả.
Tôi thầm hứa với lòng mình: "Thu ơi, ba sẽ giữ gìn chiếc lược này như giữ gìn chính mạng sống của mình. Một ngày nào đó, khi đất nước thống nhất, ba sẽ trở về và tự tay chải tóc cho con bằng chiếc lược ngà này. Con hãy chờ ba nhé!". Những giọt nước mắt hạnh phúc lại lăn dài trên khuôn mặt đầy vết sẹo của tôi, giữa lòng rừng sâu vắng lặng.
Tôi là Sáu. Đã nhiều năm trôi qua kể từ cái ngày định mệnh ấy, nhưng mỗi khi chạm tay lên vết sẹo dài trên má phải, lòng tôi lại thắt lại một nỗi đau khó tả. Đó không chỉ là vết thương thịt da từ một trận càn của giặc, mà nó từng là bức tường ngăn cách tôi và đứa con gái duy nhất của mình – bé Thu. Suốt chín năm kháng chiến trường kỳ, tôi sống bằng niềm tin và tấm ảnh cũ của con. Để rồi khi chiến tranh tạm lắng, tôi được về phép ba ngày, niềm vui sướng ấy tưởng chừng có thể làm tôi bay bổng trên mặt nước sông Cửu Long.
Chiếc xuồng vừa chớm cập bến, tôi đã không thể kìm lòng mà nhảy phắt lên bờ. Thấy một đứa bé chừng tám, chín tuổi đang chơi dưới gốc cây xoài, tim tôi đập loạn nhịp. "Thu! Con!". Tôi gọi, giọng run rẩy vì hạnh phúc. Tôi đã tưởng tượng con sẽ chạy đến, ôm trầm lấy cổ tôi như trong những giấc mơ đêm ở chiến khu. Nhưng không, con bé tròn mắt nhìn tôi – một người đàn ông lạ mặt với vết sẹo đỏ hửng, gớm ghiếc giật giật mỗi khi xúc động. Nó sợ hãi, mặt tái mét rồi chạy vụt đi kêu cứu "Má! Má!". Giây phút ấy, tôi đứng sững lại, hai tay buông thõng, cảm giác như cả thế giới sụp đổ dưới chân mình.
Ba ngày phép là một hành trình đầy gian truân để chinh phục trái tim con gái. Tôi ở lì trong nhà, không đi đâu xa, chỉ mong được nghe một tiếng "Ba" từ miệng con. Nhưng bé Thu bướng bỉnh đến lạ lùng. Má nó bảo nó gọi tôi vào ăn cơm, nó nói trổng: "Vô ăn cơm!". Tôi giả vờ không nghe, chờ đợi một danh từ thiêng liêng. Nó lại bồi thêm: "Cơm chín rồi!". Thậm chí khi nồi cơm sôi sùng sục, nó gặp thế bí không nhấc nổi nồi to, tôi cứ ngỡ nó sẽ phải cầu cứu tôi. Nhưng nó lại chọn cách lấy vá múc từng vá nước ra, thà vất vả chứ không chịu gọi một tiếng "Ba" để nhờ chắt nước. Sự khước từ quyết liệt ấy khiến tôi khổ tâm đến mức chỉ biết lắc đầu cười trừ. Nụ cười mà trong lòng rỉ máu.
Đỉnh điểm là bữa cơm cuối cùng trước khi tôi đi. Tôi gắp cái trứng cá to nhất bỏ vào bát nó. Bất ngờ, nó hất tung cái trứng cá, làm cơm văng tung tóe. Sự dồn nén suốt ba ngày qua khiến tôi mất kiểm soát, tôi vung tay đánh vào mông nó: "Sao mày cứng đầu quá vậy?". Thu không khóc, nó lặng lẽ gắp lại miếng trứng rồi bỏ sang nhà bà ngoại. Đêm ấy, tôi nằm trằn trọc, ân hận tột cùng.
Sáng hôm sau, lúc tôi chuẩn bị lên đường, Thu mới trở về. Giờ phút chia tay, tôi không dám lại gần con. Tôi chỉ đứng nhìn nó bằng đôi mắt xót xa và nói: "Thôi! Ba đi nghe con!". Thật bất ngờ, Thu thét lên: "Ba... a... a... ba!". Tiếng gọi xé lòng ấy làm tôi quỵ xuống. Con bé chạy lại ôm chặt lấy cổ tôi, hôn khắp mặt, hôn cả vết sẹo dài. Hóa ra tối qua bà ngoại đã giải thích cho nó về vết sẹo do giặc gây ra. Nó đã hiểu và thương tôi hơn bao giờ hết. Tôi ra đi mang theo lời hứa sẽ làm cho con một cây lược. Ở chiến khu, tôi tỉ mẩn cưa từng cái răng lược từ khúc ngà voi tìm được, khắc lên đó dòng chữ yêu thương. Nhưng định mệnh nghiệt ngã, tôi đã hy sinh trong một trận càn trước khi kịp trao tận tay con món quà ấy. Trước khi nhắm mắt, tôi chỉ kịp trao chiếc lược cho người bạn thân là bác Ba, nhờ bác đưa về cho Thu. Chiếc lược ngà chính là linh hồn, là tình yêu bất diệt tôi dành cho con.
Ngồi giữa rừng sâu, dưới ánh đèn dầu tù mù, tôi lấy khúc ngà voi vừa tìm được ra mài dũa. Mỗi nhát cưa là một nỗi nhớ, mỗi lần mài là một lần tôi nhớ về tiếng gọi "Ba" vang dội cả bến sông ngày ấy. Tôi là Sáu, một người cha đã nợ con gái mình cả một tuổi thơ yên bình.
Ngày tôi về thăm nhà sau chín năm xa cách, tôi đã mang theo một trái tim rạo rực. Tôi cứ ngỡ thời gian không thể làm mờ đi tình máu mủ. Nhưng tôi đã sai. Bé Thu nhìn tôi như một kẻ xa lạ. Sự xa cách chín năm cộng với vết sẹo dài trên mặt tôi đã biến tôi thành một "người khác" trong mắt con. Trong ba ngày phép, tôi đã dùng mọi sự kiên nhẫn của một người lính để vỗ về con. Tôi muốn bù đắp, tôi muốn được chăm sóc nó. Nhưng mỗi khi tôi đưa tay ra, nó lại rụt lại. Nó nói trổng với tôi như với một người dưng. "Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái!" – tiếng nói ấy cứ xoáy vào tim tôi. Tôi đau đớn, nhưng tôi không trách con. Tôi trách chiến tranh đã khiến cha con phải ly tán, khiến một đứa trẻ mười tuổi phải mang lòng nghi ngại với chính người sinh ra mình.
Sự bướng bỉnh của Thu lên đến đỉnh điểm khi nó hất tung miếng trứng cá tôi gắp cho. Tôi đã đánh nó, một cái tát của sự bất lực. Nhìn con bé bỏ đi mà không một tiếng khóc, tôi biết mình đã tổn thương con sâu sắc. Suốt đêm đó, tôi chỉ mong thời gian quay lại để mình có thể dịu dàng hơn. Nhưng phép màu chỉ thực sự đến vào phút cuối cùng của cuộc chia tay. Khi tôi đã khoác ba lô lên vai, nhìn Thu đứng bơ vơ bên cửa nhà với vẻ mặt buồn bã, không còn nét ương ngạnh. Tôi khẽ chào con, lòng không dám hy vọng gì thêm.
Thế rồi, tiếng kêu "Ba!" xé tan bầu không khí. Thu chạy đến, ôm chặt tôi như chưa bao giờ được ôm. Nó hôn lên tóc, lên cổ, lên cả vết sẹo mà trước đó nó hắt hủi. Nó khóc nức nở, bắt tôi ở nhà. Giây phút ấy, tôi hiểu rằng mọi đau khổ trong ba ngày qua đều xứng đáng. Tôi ôm con, nước mắt người lính già rơi xuống mái tóc xanh non. Tôi hứa với con: "Ba đi rồi ba về, ba sẽ mua cho con một cây lược".
Trở lại chiến khu, tôi may mắn tìm được một khúc ngà voi. Tôi dành hết thời gian rảnh rỗi để làm lược cho con. Tôi cưa từng răng lược thận trọng như thợ kim hoàn. Tôi muốn mỗi khi con chải tóc, nó sẽ cảm nhận được hơi ấm bàn tay tôi. Nhưng chiến trường khốc liệt đã không cho tôi cơ hội trở về. Trong một trận càn lớn, tôi bị trúng đạn nặng. Lúc lâm chung, tôi không thể nói được lời nào, chỉ kịp đưa tay vào túi áo, móc chiếc lược ngà trao cho anh Ba – người đồng đội thân thiết. Ánh mắt tôi lúc đó chỉ mong anh hiểu được tâm nguyện cuối cùng: hãy mang tình yêu này về cho bé Thu của tôi. Tôi ra đi, nhưng chiếc lược ngà sẽ thay tôi ở bên con mãi mãi.
Tôi là Sáu, một người lính đã dành cả cuộc đời cho độc lập dân tộc, nhưng trong thâm tâm, tôi vẫn luôn tự dằn vặt mình là một người cha không trọn vẹn. Câu chuyện về chiếc lược ngà mà anh Ba kể lại sau này chính là toàn bộ cuộc đời, tình yêu và nỗi đau mà tôi gửi gắm cho con gái Thu.
Hồi tưởng lại chuyến về thăm nhà năm ấy, tôi vẫn thấy tim mình nhói đau. Sau chín năm xa cách, hình ảnh bé Thu trong tâm trí tôi là một đứa trẻ ẵm ngửa, vậy mà giờ đây nó đã là cô bé mười tuổi xinh xắn. Tôi vội vã nhảy lên bờ sông, gọi tên con với tất cả sự thiết tha. Nhưng đáp lại tôi là sự sợ hãi và lẩn tránh. Con bé không nhận ra tôi chỉ vì vết sẹo trên mặt tôi không giống với tấm ảnh chụp cha nó ngày xưa. Suốt ba ngày, tôi cố gắng làm mọi việc để con gọi một tiếng "Ba". Tôi chờ đợi trong những bữa cơm, trong những lúc nồi cơm sôi, nhưng Thu vẫn kiên quyết nói trổng. Nó thà dùng vá múc nước chứ không nhờ "người lạ" có vết sẹo giúp đỡ. Tôi vừa giận, vừa thương, vừa cảm thấy bất lực trước sự "đáo để" của con mình.
Cái đánh vào mông con bữa cơm hôm đó là sai lầm mà tôi mang theo suốt đời. Tôi đã không hiểu được tâm hồn nhạy cảm và lòng chung thủy tuyệt đối của nó dành cho người cha trong tấm ảnh. May mắn thay, bà ngoại đã kịp giải thích cho con hiểu trước khi tôi rời đi. Buổi sáng chia tay, Thu đã thay đổi hoàn toàn. Nó không còn bướng bỉnh mà đứng lặng lẽ ở góc cửa. Khi tôi cất lời từ biệt, con bé đã gọi "Ba" bằng một giọng thét xé lòng. Nó ôm chặt tôi, không cho tôi đi. Tiếng khóc của con làm tất cả mọi người có mặt đều phải rơi lệ. Tôi chỉ biết hứa sẽ mang về cho con một cây lược để xoa dịu nỗi đau chia cắt.
Tại chiến khu, chiếc lược ngà đã trở thành vật báu của tôi. Tôi mài khúc ngà voi cho đến khi bóng lộn, tôi dùng một cây kim nhọn khắc từng chữ: "Yêu nhớ tặng Thu, con của ba". Những đêm hành quân, chiếc lược nằm trong túi ngực trái, áp sát vào trái tim tôi, như thể con đang ở ngay bên cạnh. Mỗi khi nhớ con, tôi lại đem lược ra chải lên tóc mình cho thêm bóng, thêm mượt. Nhưng rồi trận càn cuối cùng đã cướp đi mạng sống của tôi. Khi hơi thở chỉ còn thoi thóp, tôi không nghĩ về cái chết, tôi chỉ nghĩ về chiếc lược chưa được trao tay con. Tôi dùng chút sức tàn cuối cùng để trao nó cho anh Ba. Cái nhìn của tôi lúc ấy là lời ký thác thiêng liêng nhất. Tôi ra đi trong thanh thản vì biết rằng, dù tôi không còn, tình yêu của tôi vẫn sẽ tìm đường trở về với con qua chiếc lược ấy.
Trong những ngày nằm vùng giữa rừng rậm miền Tây, nỗi nhớ nhà luôn thường trực trong tâm trí tôi. Tôi là Sáu, người cha tội nghiệp đã để lại đứa con gái nhỏ để lên đường cứu nước. Chín năm ròng rã, tôi chỉ biết đến súng đạn và những trận đánh, nhưng trong túi áo tôi luôn có tấm hình của Thu để sưởi ấm lòng mình.
Ngày được về phép ba ngày, tôi đã khóc vì sung sướng. Tôi mơ về một cuộc đoàn viên ấm áp. Nhưng thực tế lại là một gáo nước lạnh. Bé Thu không nhận cha. Sự từ chối của con bé trong ba ngày ấy còn đau đớn hơn cả vết đạn bắn. Tôi càng vỗ về, nó càng đẩy ra. Nó coi tôi như một kẻ giả mạo vì vết sẹo trên mặt tôi giật giật quá đáng sợ. Tôi nhớ lần nó nấu cơm, nồi cơm to quá sức, nó nhìn tôi rồi lại quay đi, thà tự múc từng vá nước sôi chứ không chịu gọi ba. Sự cứng cỏi ấy của con khiến tôi vừa tự hào vừa xót xa. Con gái của lính có khác, nó cũng kiên cường và dứt khoát như một chiến sĩ.
Bữa cơm cuối cùng, tôi đã không kiềm chế được khi nó hất miếng trứng cá. Tôi đánh con, và con bé đã đáp trả bằng một sự im lặng đáng sợ. Nó bỏ sang bà ngoại, bỏ lại tôi với nỗi hối hận khôn nguôi. Tôi đã nghĩ mình sẽ ra đi trong sự ghét bỏ của con. Nhưng không, buổi sáng ngày lên đường, một sự kiện đã thay đổi cuộc đời tôi mãi mãi. Thu đứng đó, mắt đỏ hoe, và khi tôi nói "Ba đi nghe con", nó đã hét lên tiếng "Ba" mà tôi mong đợi chín năm qua. Nó ôm tôi chặt đến mức tôi cảm thấy xương sườn mình như thắt lại. Nó hôn lên vết sẹo của tôi – thứ mà trước đó nó sợ hãi. Hóa ra, nó đã hiểu vết sẹo là dấu ấn của lòng dũng cảm.
Lời hứa về chiếc lược ngà là sợi dây kết nối tôi với sự sống. Ở đơn vị, tôi dành mọi tâm huyết để làm lược. Tôi mài dũa khúc ngà voi tìm được một cách nâng niu. Chiếc lược ấy không chỉ để chải tóc, nó là lời xin lỗi, là tình yêu, là cả cuộc đời tôi dành cho con. Tôi hy sinh trong một trận đánh ác liệt, nhưng trước khi nhắm mắt, tôi đã kịp gửi gắm món quà này cho anh Ba. Sau này, tôi được biết Thu đã trở thành một cô giao liên dũng cảm, và anh Ba đã trao tận tay con chiếc lược ngà. Dù tôi đã nằm lại dưới lòng đất mẹ, nhưng tôi biết rằng Thu vẫn luôn cảm nhận được sự hiện diện của tôi mỗi khi nó cầm chiếc lược ấy lên. Tình phụ tử đã chiến thắng cả cái chết và sự hủy diệt của chiến tranh.
Tôi là Sáu. Cuộc đời tôi là một chuỗi những chuyến đi, nhưng chuyến đi ý nghĩa nhất và cũng đau lòng nhất chính là ba ngày phép ngắn ngủi về thăm bé Thu. Chín năm xa cách, tôi trở về không phải với vòng tay rộng mở của con mà là với sự hoài nghi và hắt hủi.
Cái đau của một người cha bị con từ chối nó âm ỉ và nhức nhối vô cùng. Bé Thu mười tuổi, thông minh và nhạy cảm, nhưng chính sự nhạy cảm ấy khiến nó không chấp nhận được một người cha "khác" với tấm hình. Trong ba ngày ở nhà, tôi kiên nhẫn làm quen với con từng chút một. Nhưng con bé bướng bỉnh vô cùng. Nó gọi tôi là "người ta", nó nói trổng không có chủ ngữ. Khi nồi cơm sôi, nó rơi vào thế bí, bác Ba đã gợi ý cho nó gọi tôi, nhưng nó vẫn nhất quyết không gọi. Nó tự xoay xở một mình với cái vá múc nước. Tôi nhìn con, lòng quặn thắt nhưng cũng pha chút ngưỡng mộ sự tự lập của nó.
Đến bữa ăn, cái trứng cá – biểu tượng của sự quan tâm tôi dành cho con – lại bị nó hất văng. Tôi đánh con trong cơn nóng giận, và đó là vết sẹo thứ hai tôi khắc vào lòng mình. May sao, bà ngoại đã gỡ nút thắt đó bằng cách giải thích về vết sẹo do giặc bắn. Sáng hôm chia tay, Thu đã làm nên một cơn địa chấn cảm xúc. Tiếng "Ba" của nó xé nát tâm can tôi. Nó ôm tôi không rời, bắt tôi hứa mua lược. Tôi ra đi với một tâm thế khác, một người cha thực thụ đã được con công nhận.
Ở chiến trường, tôi làm lược cho con với tất cả lòng thành kính. Khúc ngà voi được tôi mài nhẵn thín, từng chiếc răng lược đều đặn, trên sống lược khắc dòng chữ gửi con yêu. Chiếc lược ấy trở thành bùa hộ mệnh của tôi trong những trận chiến. Nhưng tôi không thể thắng nổi số phận. Một mảnh đạn pháo đã khiến tôi ngã xuống. Trong giây phút cuối cùng, tôi không còn sức để nói, chỉ biết dùng ánh mắt khẩn thiết trao chiếc lược cho anh Ba. Đó là lời trăng trối không lời nhưng nặng tựa ngàn cân.
Nhiều năm sau, khi anh Ba trao lại chiếc lược cho Thu – lúc này đã là một cô giao liên trưởng thành – tôi ở thế giới bên kia chắc hẳn đã mỉm cười. Chiếc lược ngà không chỉ là một món quà, nó là gạch nối giữa hai thế hệ, là biểu tượng của một tình yêu không bao giờ lụi tàn dù chiến tranh có tàn khốc đến đâu. Câu chuyện của cha con tôi sẽ mãi là minh chứng cho sức mạnh thiêng liêng của tình phụ tử trên mảnh đất Việt Nam đau thương mà anh dũng này.
Tôi ngồi đây, giữa chiến khu miền Đông khói lửa, tay mân mê chiếc lược ngà trắng muốt. Mỗi nhát cưa, mỗi đường mài đều gợi lại trong tôi những ký ức vừa đau đớn vừa hạnh phúc về ba ngày phép ngắn ngủi ấy. Chín năm kháng chiến, tôi đã quen với tiếng bom rơi, đạn nổ, nhưng chưa bao giờ tôi thấy mình yếu mềm và bất lực như khi đứng trước đứa con gái nhỏ của mình – bé Thu.
Năm 1946, theo tiếng gọi của quê hương, tôi lên đường khi Thu chưa đầy một tuổi. Hình ảnh con trong tôi chỉ là một đứa trẻ sơ sinh đỏ hỏn. Chín năm xa cách, nỗi nhớ con cứ lớn dần theo năm tháng. Tôi chỉ có tấm ảnh nhỏ của vợ con làm bạn. Đêm đêm, dưới ánh đèn dầu tù mù nơi lán trại, tôi lại lôi ảnh ra ngắm, tự hỏi giờ này con đã lớn thế nào, có còn nhớ đến người cha này không? Thế rồi, tin vui ập đến, tôi được nghỉ ba ngày phép. Ba ngày – quá ngắn ngủi cho một cuộc chia ly đằng đẵng, nhưng đủ để thắp lên trong tôi niềm hy vọng cháy bỏng.
Chiếc xuồng cập bến sông Cửu Long, lòng tôi rạo rực khôn nguôi. Không đợi xuồng dừng hẳn, tôi đã nhảy phắt lên bờ. Thấy một đứa bé chừng tám, chín tuổi đang chơi dưới gốc xoài, tim tôi đập loạn nhịp. "Thu! Con! Ba đây con!". Tôi khom người, đưa hai tay ra, chờ đợi một cái ôm ấm áp. Nhưng không! Con bé tròn mắt nhìn tôi – một người đàn ông lạ mặt với vết sẹo dài đỏ hửng trên má. Nó sợ hãi, mặt tái mét rồi chạy vụt đi, miệng kêu thét: "Má! Má!". Giây phút ấy, tôi đứng sững lại. Hai tay tôi buông thõng xuống, cảm giác như chúng vừa bị gãy. Nỗi đau đớn hiện rõ trên khuôn mặt, tôi cảm thấy một luồng điện lạnh ngắt chạy dọc sống lưng. Chiến tranh đã lấy đi của tôi nhiều thứ, nhưng tôi không ngờ nó còn lấy đi cả sự nhận biết của con gái dành cho cha mình.
Suốt ba ngày phép, tôi chẳng đi đâu xa, chỉ quanh quẩn ở nhà, tìm mọi cách để làm thân với con. Tôi vỗ về, chăm sóc, nhưng càng gần thì Thu lại càng đẩy tôi ra xa. Tôi mong sao nó gọi một tiếng "Ba", nhưng con bé nhất quyết không chịu. Khi mẹ nó bảo gọi ba vào ăn cơm, nó nói trổng: "Thì má cứ kêu đi". Ngay cả khi bị mẹ dọa đánh, nó cũng chỉ nói vọng ra từ bếp: "Vô ăn cơm!". Mỗi lời nói trổng của nó như một nhát dao khứa vào lòng tôi. Có những lúc nồi cơm sôi to, nó không thể tự nhấc xuống chắt nước. Tôi đứng đó, hy vọng nó sẽ gọi mình một tiếng "Ba" để nhờ vả. Tôi đã đợi, đợi mãi... Nhưng con bé thật "đáo để". Nó nhìn dáo dác rồi kêu lên: "Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái!". Tiếng kêu ấy khiến tôi khổ tâm đến mức không khóc được, chỉ biết lắc đầu cười chua chát.
Đỉnh điểm là bữa cơm ngày thứ hai. Tôi gắp cho nó một cái trứng cá to, vàng óng bỏ vào chén. Bất ngờ, nó hất tung cái trứng ra ngoài, làm cơm đổ tung tóe. Sự kiên nhẫn của một người lính dạn dày bỗng chốc vỡ vụn trước sự bướng bỉnh của đứa con nhỏ. Tôi vung tay đánh vào mông nó: "Sao mày cứng đầu quá vậy, hả?". Tôi hối hận ngay lúc đó, nhưng con bé không khóc. Nó lẳng lặng gắp miếng trứng cá để lại vào bát rồi bỏ sang nhà bà ngoại. Đêm ấy, tôi nằm trằn trọc, nước mắt chảy ngược vào trong.
Ngày chia tay cũng đến. Sáng hôm đó, nhà đông người đến tiễn. Thu đứng bơ vơ bên cửa, không còn vẻ bướng bỉnh mà thoáng một nét buồn sâu thẳm. Tôi muốn lại gần ôm con nhưng lại sợ nó bỏ chạy. Đến lúc mang ba lô lên vai, tôi chỉ dám đứng nhìn con từ xa và khẽ nói: "Thôi! Ba đi nghe con!". Và rồi, một phép màu đã xảy ra. Con bé thét lên: "Ba... a... a... ba!". Tiếng gọi ấy xé tan bầu không khí im lặng, xé cả ruột gan tôi. Thu chạy đến ôm chặt lấy cổ tôi, nức nở. Nó hôn khắp mặt, hôn cả vết sẹo dài – nguyên nhân khiến nó không nhận ra tôi bấy lâu nay. Hóa ra, bà ngoại đã giải thích cho nó hiểu vì sao cha nó lại có vết sẹo ấy.
Giờ đây, ở chiến khu, tôi đang tỉ mẩn làm chiếc lược ngà theo lời dặn của con. Tôi hy sinh trong một trận càn ác liệt, nhưng trước khi nhắm mắt, tôi đã kịp trao chiếc lược cho anh Ba – người đồng đội thân thiết, nhờ anh đưa về cho Thu. Tôi ra đi nhưng tình yêu của tôi dành cho con sẽ mãi còn mãi trong chiếc lược ấy.
Chín năm xa cách, tôi trở về quê hương với bao nỗi niềm rạo rực. Tôi là Sáu, một người lính chiến trường, nhưng cũng là một người cha khao khát tình yêu thương gia đình. Chín năm, con gái tôi – bé Thu – đã lớn khôn, nhưng nó lại không nhận ra người cha này. Ba ngày phép ngắn ngủi trôi qua trong sự ghẻ lạnh của con đã khiến tôi đau đớn vô cùng.
Tôi nhớ lại ngày đầu tiên trở về. Thấy con chơi ngoài sân, tôi nhảy lên bờ gọi thiết tha: "Thu! Con!". Vậy mà con bé lại bỏ chạy. Tôi đứng lặng người, mặt sầm lại. Tại sao con lại sợ tôi? Tôi nhìn vào gương, thấy vết sẹo dài trên mặt mình giật giật. Có lẽ vết tích chiến tranh này đã làm con bé hoảng sợ. Trong suốt ba ngày ở nhà, tôi dành trọn thời gian cho con. Tôi mong được nghe con gọi một tiếng "Ba" thiêng liêng. Nhưng Thu bướng bỉnh lạ lùng. Nó nói trổng với tôi, nó từ chối sự giúp đỡ của tôi khi nồi cơm sôi, nó thà tự múc từng vá nước chứ không chịu nhờ tôi một tiếng. Tôi thấy mình như một người xa lạ trong chính ngôi nhà của mình.
Bữa cơm cuối cùng, sự việc cái trứng cá đã làm thay đổi tất cả. Tôi đánh con vì sự cứng đầu của nó, để rồi hối hận vô cùng khi thấy nó lặng lẽ bỏ đi. Tôi đã nghĩ rằng chuyến đi này sẽ kết thúc trong sự ghẻ lạnh. Nhưng buổi sáng ngày ra đi, mọi chuyện đã xoay chuyển theo cách tôi không bao giờ ngờ tới.
Sáng hôm ấy, bà con lối xóm đến chia tay rất đông. Tôi bận rộn tiếp khách nhưng ánh mắt luôn tìm kiếm Thu. Con bé đứng bơ vơ ở góc cửa, vẻ mặt nghiêm nghị lạ thường. Nó không còn quấy phá, không còn bướng bỉnh. Tôi thấy lòng mình thắt lại khi nhìn thấy nét buồn trên gương mặt con. Giờ phút chia tay đã đến, tôi xách ba lô lên vai, bắt tay từng người. Cuối cùng, tôi nhìn về phía con. Tôi không dám lại gần, chỉ đứng từ xa nói: "Thôi! Ba đi nghe con!".
"Ba... a... a... ba!". Tiếng thét ấy vang lên như tiếng xé, xé tan sự im lặng của buổi sáng vùng ven sông. Thu chạy nhanh như một con sóc, nhảy thót lên ôm chặt lấy cổ tôi. Hai tay nó siết chặt, đôi chân câu chặt lấy ngang hông tôi. Nó khóc nức nở: "Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con!". Tiếng khóc của con làm tôi vỡ òa. Tôi ôm chặt lấy con, những giọt nước mắt hạnh phúc lăn dài trên má. Hóa ra con vẫn yêu tôi, chỉ là sự hiểu lầm về vết sẹo đã ngăn cản con bấy lâu nay. Đêm qua, Thu sang nhà bà ngoại, được bà giải thích rằng vết sẹo trên mặt ba là do bị giặc Pháp bắn khi ba đi chiến đấu. Con bé đã hiểu, nó hối hận và thương ba nó vô cùng.
Tôi hôn lên mái tóc con, an ủi: "Ba đi rồi ba về với con". Thu mếu máo: "Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba!". Lời dặn dò ấy như một mệnh lệnh khắc sâu vào trái tim tôi. Tôi lên đường với lời hứa ấy mang theo. Ở chiến khu, mỗi khi có thời gian rảnh, tôi lại tìm kiếm vật liệu để làm lược cho con. Cuối cùng, tôi tìm được một khúc ngà voi. Tôi dành tất cả tình yêu và nỗi nhớ để cưa từng răng lược, mài dũa cho đến khi nó sáng bóng. Tôi khắc lên sống lược dòng chữ: "Yêu nhớ tặng Thu, con của ba".
Nhưng chiến tranh không có lòng nhân ái. Trong một trận càn ác liệt, tôi đã trúng đạn nặng. Lúc lâm chung, tôi không còn đủ sức để nói lời trăn trối. Tôi chỉ kịp móc chiếc lược ngà trong túi áo, trao cho anh Ba – người bạn chiến đấu của tôi. Cái nhìn của tôi lúc ấy là tất cả lời ký thác: "Anh hãy mang chiếc lược này về cho con tôi". Tôi nhắm mắt xuôi tay, nhưng linh hồn tôi sẽ theo chiếc lược ấy trở về bên Thu.
Tôi là Sáu, người lính miền Tây. Giờ đây, khi đang nằm dưới nấm mồ xanh cỏ nơi chiến trường, tôi vẫn nhớ như in những ngày tháng miệt mài bên chiếc lược ngà dành cho con gái. Chuyến thăm nhà ba ngày phép năm ấy là bước ngoặt lớn nhất trong cuộc đời tôi, khiến tôi hiểu sâu sắc hơn về tình phụ tử thiêng liêng và sự tàn khốc của chiến tranh.
Bé Thu của tôi, đứa con gái bướng bỉnh nhưng giàu tình cảm. Tôi nhớ những ngày ở nhà, nó đã khiến tôi khổ tâm biết bao khi nhất quyết không nhận cha. Tôi nhớ tiếng nói trổng "Vô ăn cơm!", "Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái!". Tôi nhớ cái tát đau điếng mà tôi đã dành cho con khi nó hất miếng trứng cá. Lúc đó, tôi giận vô cùng, nhưng khi thấy nó lẳng lặng bỏ đi sang nhà bà ngoại, tôi lại thấy mình là người cha tồi tệ nhất thế gian. Tôi đã không hiểu được tâm hồn nhạy cảm của một đứa trẻ mười tuổi.
Nhưng tiếng gọi "Ba" vang lên lúc tôi chuẩn bị ra đi đã cứu rỗi linh hồn tôi. Tiếng gọi ấy xua tan mọi mệt mỏi, mọi đau đớn. Tôi ra đi mang theo lời hứa mua cho con cây lược. Về đến đơn vị, nỗi nhớ con luôn thường trực. Mỗi khi ngồi nghỉ sau những trận đánh, tôi lại nghĩ đến mái tóc của Thu. Tôi muốn tự tay làm cho con một cây lược thật đặc biệt, không phải là thứ mua ở chợ.
May mắn thay, trong một lần đi rừng, tôi tìm được một khúc ngà voi tuyệt đẹp. Cầm khúc ngà trên tay, tôi vui mừng khôn xiết. Tôi bắt đầu những ngày tháng tỉ mẩn. Tôi dùng cưa sắt cưa từng răng lược, dồn hết tâm trí vào đó như một nghệ nhân. Mỗi răng lược hoàn thành, tôi lại thấy gương mặt con gái hiện ra mỉm cười với tôi. Tôi mài mòn, mài nhẵn chiếc lược cho đến khi nó bóng lên như gương. Trên sống lược, tôi nắn nót khắc dòng chữ: "Yêu nhớ tặng Thu, con của ba". Chiếc lược ấy đã trở thành báu vật của tôi. Những đêm nằm võng giữa rừng sâu, tôi lại lấy lược ra ngắm nghía, chải lên tóc mình cho thêm bóng, như thể đang được chạm vào mái tóc con.
Chiếc lược ngà đã giúp tôi vơi đi nỗi nhớ, tiếp thêm cho tôi sức mạnh để chiến đấu. Nhưng một trận càn lớn của địch đã diễn ra. Trong khói lửa mịt mù, tôi đã bị trúng mảnh pháo vào ngực. Biết mình không qua khỏi, tôi chỉ có một ý nghĩ duy nhất: Chiếc lược của Thu. Tôi dùng chút sức tàn cuối cùng để móc chiếc lược ra khỏi túi áo. Tôi không thể nói, chỉ biết nhìn anh Ba bằng đôi mắt cầu khẩn. Anh Ba hiểu ý tôi, anh nắm chặt tay tôi và gật đầu. Lúc ấy, tôi mới yên tâm nhắm mắt.
Tôi ra đi khi chưa được tận tay chải tóc cho con bằng chiếc lược mình làm. Nhưng tôi biết, anh Ba đã thay tôi thực hiện tâm nguyện ấy. Nhiều năm sau, khi đất nước thống nhất, Thu giờ đã là một cô giao liên dũng cảm. Khi nhận chiếc lược từ tay bác Ba, nó đã khóc. Những giọt nước mắt ấy là sự giao thoa giữa hai thế giới, là minh chứng cho tình cha con không bao giờ lụi tàn. Chiến tranh có thể hủy diệt sự sống, nhưng không thể hủy diệt được tình yêu.
Tôi đã đi qua nhiều cuộc chiến, đã thấy nhiều đồng đội ngã xuống, nhưng nỗi đau lớn nhất mà tôi từng trải qua chính là sự ngộ nhận của chính đứa con gái ruột mình. Tôi là Sáu, một người lính mang trên mình vết sẹo của thời đại – vết sẹo đã khiến con gái tôi không nhận ra cha mình trong suốt ba ngày phép quý giá.
Ngày tôi lên đường đi kháng chiến năm 1946, quê hương tôi còn nghèo khó, giặc Pháp bắt đầu tràn vào. Tôi rời nhà khi bé Thu còn đỏ hỏn trên tay mẹ. Chín năm chiến đấu ở chiến khu miền Đông, tôi đã thay đổi nhiều. Khuôn mặt trẻ trung ngày nào giờ đã sạm đen vì nắng gió, và đặc biệt là vết sẹo dài chạy từ mang tai xuống cổ do một vết đạn xém qua trong một trận càn. Tôi không ngờ rằng chính vết sẹo này lại là bức tường ngăn cách giữa tôi và con.
Khi trở về nhà, tôi háo hức bao nhiêu thì thất vọng bấy nhiêu. Thu nhìn tôi với ánh mắt sợ hãi, lạ lẫm. Nó không thấy tôi giống người cha trong tấm ảnh mà mẹ nó vẫn cho nó xem. Người cha trong ảnh mặt mũi thanh tú, không có vết sẹo gớm ghiếc kia. Trong ba ngày ở nhà, tôi cố gắng dùng mọi cách để thu hẹp khoảng cách. Tôi mua quà cho con, tôi vỗ về nó, nhưng Thu càng tỏ ra bướng bỉnh. Nó nói trổng, nó từ chối sự quan tâm của tôi. Khi nồi cơm sôi, nó thà lấy vá múc từng vá nước ra chứ không chịu gọi tôi giúp. Tôi đau đớn, mặt tôi sầm lại, hai tay buông thõng. Tôi cảm thấy bất lực trước sự "đáo để" của đứa trẻ mười tuổi.
Sự xung đột lên đến đỉnh điểm khi tôi đánh con vì nó hất tung cái trứng cá tôi gắp cho. Nhìn con bé lặng lẽ đứng dậy rời khỏi mâm cơm, tôi biết mình đã sai. Tôi đã dùng bạo lực để giải quyết một sự ngộ nhận mà chính mình cũng không hiểu rõ nguyên nhân. Phải đến sáng hôm sau, khi bà ngoại kể lại, tôi mới hiểu. Thu đã hỏi bà về vết sẹo, và bà giải thích đó là dấu tích của giặc Pháp gây ra cho cha nó. Lúc đó, trái tim nhỏ bé của con tôi mới thực sự mở cửa.
Giây phút chia tay trên bến sông, tiếng gọi "Ba" của Thu như một luồng điện chạy khắp cơ thể tôi. Con bé ôm chặt tôi, hôn lên vết sẹo của tôi. Nó đã không còn sợ vết sẹo ấy nữa, mà coi đó là biểu tượng của lòng dũng cảm của cha. Lời hứa mua cây lược cho con đã thôi thúc tôi mỗi ngày ở chiến khu. Tôi dành mọi thời gian rảnh rỗi để làm lược từ ngà voi. Tôi khắc lên đó tình yêu và sự ân hận vì cái tát năm xưa.
Tôi hy sinh trên chiến trường, nhưng lòng tôi thanh thản vì biết con đã nhận ra tôi, đã yêu thương tôi với tất cả tấm lòng. Anh Ba đã đưa chiếc lược về cho Thu. Chiếc lược ấy không chỉ để làm đẹp, mà nó là chứng nhân cho nỗi đau chiến tranh và sự bất diệt của tình phụ tử. Chiến tranh có thể chia cắt chúng tôi về mặt địa lý, nhưng không thể chia cắt được sợi dây huyết thống thiêng liêng.
Tôi là Sáu, một người lính đã nằm lại nơi chiến trường rừng sâu. Nhưng câu chuyện của tôi về chiếc lược ngà và đứa con gái bé bỏng tên Thu vẫn luôn là một phần ký ức sống động trong lòng những người ở lại. Chín năm kháng chiến, tôi chỉ có duy nhất ba ngày phép về thăm nhà – ba ngày đã thay đổi toàn bộ tâm hồn tôi.
Tôi nhớ ngày đầu về, sự hụt hẫng khi Thu bỏ chạy đã làm tôi sững sờ. Tôi nhìn anh Ba – người bạn đồng hành – với đôi mắt buồn bã. Suốt ba ngày, anh Ba đã chứng kiến tất cả sự bướng bỉnh của Thu và nỗi đau của tôi. Anh cũng là người đã nhắc nhở Thu phải gọi ba khi nồi cơm sôi, nhưng con bé vẫn nhất quyết giữ lập trường của mình. Sự cứng đầu của Thu khiến tôi vừa giận vừa thương. Tôi tự hào vì con mình có khí chất của người chiến sĩ, nhưng cũng đau lòng vì nó không nhận ra cha.
Cái tát trong bữa cơm là điều tôi hối tiếc nhất. Tôi đã không kiềm chế được cảm xúc của một người cha khao khát tình thương. Nhưng chính nghịch cảnh đó đã dẫn đến một cuộc chia tay cảm động nhất lịch sử đời tôi. Tiếng gọi "Ba" của Thu khi tôi sắp ra đi là phần thưởng lớn nhất mà tôi nhận được. Nó ôm tôi, hôn tôi, và dặn tôi mua cây lược.
Về đến chiến khu, tôi may mắn tìm được khúc ngà voi. Tôi và anh Ba đã cùng nhau nâng niu nó. Tôi tỉ mẩn làm lược, còn anh Ba thường ngồi bên cạnh động viên. Chiếc lược ngà hoàn thành, tôi gửi gắm vào đó tất cả hy vọng về ngày thống nhất để được về chải tóc cho con. Tôi khắc chữ: "Yêu nhớ tặng Thu, con của ba".
Thế nhưng, một trận đánh ác liệt đã cướp đi mạng sống của tôi. Khi trúng đạn, tôi biết mình không còn cơ hội trở về. Tôi không thể nói, tôi chỉ biết nhìn anh Ba. Trong ánh mắt cuối cùng ấy, tôi gửi gắm tất cả sự tin tưởng dành cho người đồng đội. Tôi đưa tay vào túi áo, lấy chiếc lược ra trao cho anh. Anh Ba đã nắm chặt tay tôi, đôi mắt anh đỏ hoe. Tôi biết anh sẽ hoàn thành di nguyện của mình.
Nhiều năm trôi qua, anh Ba đã tìm thấy Thu. Lúc này Thu đã lớn, là một cô giao liên dũng cảm trên chiến trường. Khi nhận chiếc lược, Thu đã hiểu thấu tình yêu bao la của cha. Chiếc lược ngà đã đi qua khói lửa, đi qua cái chết để trở về với chủ nhân đích thực của nó. Tôi ở nơi chín suối cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Tình cha con của chúng tôi đã chiến thắng sự tàn khốc của bom đạn. Chiếc lược ngà mãi mãi là biểu tượng của một thời kỳ đau thương nhưng hào hùng, nơi tình người luôn tỏa sáng giữa đêm tối chiến tranh.
Xem thêm:
Thông qua việc nhập vai ông Sáu kể lại chuyện Chiếc lược ngà, người viết cảm nhận rõ hơn vẻ đẹp thiêng liêng của tình phụ tử giữa chiến tranh mất mát. Hy vọng bài viết sẽ giúp em hoàn thành tốt bài văn của mình, biết cách thể hiện cảm xúc chân thành và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc cũng như thầy cô chấm bài.
Bài viết có hữu ích với bạn không?
Có
Không
Cám ơn bạn đã phản hồi!
