Bệnh béo phì là tình trạng tích lũy mỡ, chất béo quá mức, ở một vùng cơ thể, hay toàn thân và ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe. Bệnh béo phì ở trẻ ngày càng gia tăng do môi trường sống hạn chế không có chỗ vui chơi, lối sống thụ động, ít vận động và việc ăn uống quá mức.
Bệnh béo phì ở trẻ em ngày càng gia tăng
Chỉ số BMI hay còn gọi là chỉ số khối cơ thể, giúp đánh giá xem cân nặng của trẻ nằm trong phạm vi khỏe mạnh, thiếu cân hay béo phì. Nếu thấy chỉ số của trẻ nằm trong nhóm béo phì, cha mẹ cần đưa trẻ đi khám để bác sĩ xem xét có phải bệnh béo phì ở trẻ em hay không.
Cách tính BMI ở trẻ em ban đầu cũng dựa vào chiều cao và cân nặng giống cách tính BMI ở người lớn. Tuy nhiên cách tính BMI ở trẻ em không đơn giản như người lớn vì trẻ em đang phát triển nên BMI sẽ thay đổi theo độ tuổi và giới tính khi trẻ lớn lên.
Từ công thức sẽ tính được chỉ số BMI ở dạng phần trăm. Sau đó so sánh với biểu đồ tăng trưởng tỷ lệ phần trăm BMI theo tuổi để đo lường kích thước và mô hình tăng trưởng của trẻ.
Biểu đồ tăng trưởng tỷ lệ phần trăm BMI theo tuổi được biểu diễn như sau:
Dự đoán bệnh béo phì ở trẻ em qua chỉ số BMI
Ví dụ:
Giả sử có một trẻ 4 tuổi có cân nặng 19 kg, chiều cao là 1.2 m. BMI của trẻ = cân nặng/(chiều cao x chiều cao) = 20/(1.2x1.2) = 13,19. Tra biểu đồ BMI cho bé 4 tuổi như sau:
Bệnh béo phì ở trẻ em có nhiều khả năng xảy ra do những nguyên nhân như:
Có khoảng 60 - 80% trường hợp trẻ béo phì là do nguyên nhân dinh dưỡng không đúng. Lượng thức ăn của trẻ bị thừa cân béo phì thường vượt mức nhu cầu cần thiết cho sự phát triển của cơ thể. Phần năng lượng dư thừa này sẽ được chuyển hóa thành mỡ.
Ăn đồ ngọt, thức ăn nhanh nhiều chất béo dễ khiến trẻ mắc bệnh béo phì ở trẻ em
Bệnh béo phì ở trẻ hay tình trạng suy dinh dưỡng thể béo phì thường sẽ thiếu các vitamin và khoáng chất cần thiết. Bệnh này làm ảnh hưởng đến tâm lý, chiều cao, dậy thì sớm, rối loạn chuyển hóa, tiêu hóa hô hấp, tim mạch, hệ cơ xương,...
Một số dấu hiệu thể hiện trẻ bị béo phì:
Trẻ mắc bệnh béo phì thì cơ thể sẽ nặng nề, phản xạ kém, dễ bị tai nạn. Bệnh béo phì có thể khiến bé bị rạn da, biến dạng xương chân, khó thở, giảm chất lượng giấc ngủ.
Bệnh béo phì ở trẻ em thường kéo dài từ nhỏ cho đến hết thời gian thiếu niên, ảnh hưởng xấu tới tâm lý của trẻ, từ đó giảm thành công trong học tập và thường không khỏe mạnh. Trẻ béo phì dễ bị chọc ghẹo, dễ tự ti, cô độc. Nhiều trẻ có khuynh hướng mắc chứng tự ti, không hài lòng với hình dáng cơ thể, trầm cảm ở trẻ em.
Một số biến chứng của bệnh béo phì:
Bệnh béo phì ở trẻ em nếu không được khắc phục sẽ diễn biến thành người lớn béo phì. Khi đó trẻ sẽ gặp tất cả nguy cơ kể trên.
Đối với trẻ mắc bệnh béo phì, cha mẹ cần thay đổi chế độ dinh dưỡng của bé nhưng đừng quá đột ngột. Hạn chế cho bé ăn các thức ăn nhiều dầu mỡ, nhiều gia vị và những loại đồ ăn nhiều béo, nhiều đường như bánh ngọt, đồ ăn nhanh, khoai tây chiên, kem.
Cha mẹ nên tìm kiếm các loại thực phẩm có thành phần dinh dưỡng tương đương nhưng ít đường và chất béo hơn. Các loại rau xanh và trái cây cũng giúp bé ăn no và tốt cho sức khỏe.
Trong quá trình thay đổi chế độ ăn để điều trị bệnh béo phì ở trẻ em, cha mẹ không nên cắt sữa của bé, sữa rất cần thiết vì sữa cung cấp những vi chất quan trọng cho sự phát triển của trẻ như canxi, các vitamin và khoáng chất khác. Cha mẹ nên chọn những loại sữa năng lượng thấp, hàm lượng vi khoáng cao.
Cha mẹ cho bé ngồi ăn cùng gia đình trong bữa chính để bé cảm thấy vui vẻ, hạn chế các bữa ăn phụ, ăn vặt. Nước lọc, nước ép trái cây rất tốt cho bé. Tuy nhiên, cha mẹ chỉ nên cho bé uống nước ép trái cây một cách vừa phải vì nếu uống nhiều sẽ không tốt cho hệ tiêu hóa của bé.
Ngồi chơi với thiết bị điện tử khiến trẻ say mê và ít vận động. Điều này cũng làm tăng nguy cơ mắc một số vấn đề sức khỏe, chẳng hạn như bệnh béo phì. Các chuyên gia khuyến nghị rằng trẻ em không nên sử dụng thiết bị điện tử nhiều hơn một giờ mỗi ngày.
Để điều trị bệnh béo phì ở trẻ em, cha mẹ nên lên kế hoạch tập thể dục cho bé vào sáng và chiều, hoặc theo cùng lịch tập thể dục với cha mẹ để bé có động lực hơn. Có cha mẹ luyện tập cùng sẽ giúp bé thích thú và cảm thấy được quan tâm.
Các môn thể thao đơn giản như đi bộ, thể dục nhịp điệu, bơi lội,… rất tốt cho quá trình giảm trọng lượng cơ thể của bé. Ưu tiên những môn thể thao phù hợp với sở thích của bé. Các trò chơi vận động xung quanh nhà đối với trẻ 1 - 3 tuổi cũng là một trong những cách tốt giúp bé giảm cân.
Thời gian vận động khuyến khích là ít nhất 60 phút mỗi ngày. Cha mẹ cho bé tập các bài tập với thời lượng hợp lý, không nên ép bé tập quá nhiều sẽ gây khó chịu và không muốn luyện tập trong lần kế tiếp.
Cha mẹ nên đi khám dinh dưỡng cho bé ở những nơi uy tín. Các bác sĩ sẽ tư vấn, cân nhắc sử dụng thuốc tùy theo trường hợp. Bệnh béo phì ở trẻ em thường khiến trẻ ăn uống thiên lệch, mất cân đối nên sẽ được xem xét bổ sung vitamin, khoáng chất, omega3, chất đạm, thực phẩm giàu chất xơ,…
Ngoài ra, điều trị bằng thuốc còn áp dụng để điều trị nguyên nhân, biến chứng của của bệnh béo phì. Cha mẹ không nên tự ý cho trẻ uống thuốc mà cần đến bác sĩ nhi khoa để được tư vấn.
Tâm lý liệu pháp cũng giúp bé kiểm soát cân nặng hiệu quả. Cha mẹ có thể nói cho trẻ biết những hậu quả của béo phì, sự khó hòa nhập khó hòa nhập và hay bị bạn bè trêu đùa để trẻ ý thức trong kiểm soát cân nặng hơn. Khi bệnh béo phì ở trẻ em đã đến mức độ nặng, cần chuyển trẻ đến các nhà tâm lý liệu pháp.
Một số yếu tố trong chế độ dinh dưỡng giúp phòng tránh bệnh béo phì ở trẻ em:
Trẻ em dưới 6 tuổi chưa cần tập thể dục thể thao nhưng cha mẹ cần khuyến khích và tạo điều kiện cho trẻ tham gia các trò chơi vận động như đạp xe, cò cò, nhảy dây, năm mười, làm việc nhà vừa sức… Trẻ trên 6 tuổi thì cần tham gia thêm một số môn thể thao trẻ yêu thích và vừa sức để phòng bệnh béo phì ở trẻ em.
Trò chơi vận động giúp phòng ngừa bệnh béo phì ở trẻ em
Trẻ thiếu ngủ có nguy cơ thừa cân béo phì tăng hơn 58% so với trẻ ngủ đủ giấc. Vì vậy, cha mẹ cần sắp xếp cho trẻ lịch nghỉ ngơi hợp lý.
Độ tuổi | Thời gian ngủ ngày | Thời gian ngủ đêm | Tổng thời gian ngủ |
1 tuần | 8 giờ | 8 giờ 30 phút | 16 giờ 30 phút |
4 tuần | 6 - 7 giờ | 8 - 9 giờ | 14 - 16 giờ |
3 tháng | 4 - 5 giờ | 10 - 11 giờ | 14 - 16 giờ |
6 tháng | 3 giờ | 11 giờ | 14 giờ |
9 tháng | 2 giờ 30 phút | 11 giờ | 13 giờ 30 phút |
12 tháng | 2 giờ 30 phút | 11 giờ | 13 giờ 30 phút |
2 tuổi | 1 giờ 30 phút | 11 giờ 30 phút | 13 giờ |
3 tuổi | 45 phút | 11 giờ 30 phút | 12 giờ 15 phút |
4 tuổi | Không ngủ trưa (có thể) | 11 giờ 30 phút | 11 giờ 30 phút |
5 tuổi | Không ngủ trưa (có thể) | 11 giờ | 11 giờ |
6 tuổi | Không ngủ trưa (có thể) | 10 giờ 45 phút | 10 giờ 45 phút |
6 - 9 tuổi | Không ngủ trưa (có thể) | 10 - 11 giờ | 10 - 11 giờ |
9 - 18 tuổi | Không ngủ trưa (có thể) | 9 giờ | 9 giờ |
Bảng thời gian ngủ khuyến cáo theo độ tuổi
Cha mẹ có thể cho trẻ ghi nhật ký ăn uống và vận động trong một tuần để trẻ ý thức hơn trong việc tự điều chỉnh. Mỗi khi lựa chọn thực phẩm cha mẹ cần đọc nhãn để chọn lựa cho phù hợp. Cả nhà có thể cùng học một khóa dinh dưỡng để biết cách thiết kế bữa ăn hợp lý.
Trong nhà không nên dự trữ đồ ngọt, chỉ ăn tại bàn ăn và không ăn vặt. Cha mẹ không nên ép trẻ ăn hết toàn bộ suất ăn. Điều chỉnh để có các thói quen ăn uống tốt hơn như: nhai chậm, cắn nhỏ, đặt đũa xuống giữa các lần nhai.
Bệnh béo phì ở trẻ em có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Cha mẹ cần theo dõi các chỉ số của trẻ để điều chỉnh chế độ ăn và nếp sinh hoạt kịp thời. Nếu có những vấn đề khó khăn trong việc kiểm soát béo phì ở trẻ, hãy đến ngay bệnh viện nhi khoa. Các thông tin từ AVAKids không có tác dụng thay thế chẩn đoán và điều trị y khoa.
Quỳnh tổng hợp
Kiểm duyệt bởi Trúc Lâm
Bài viết có hữu ích với bạn không?
Có
Không
Cám ơn bạn đã phản hồi!



